THẤT BẠI trong khâu chuẩn bị là chuẩn bị cho một THẤT BẠI!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí ẩn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí ẩn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2024

14 Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại Việt nam

(ĐQT)-Tính đến nay, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi danh 14 di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, bao gồm: Nhã nhạc - Nhạc Cung đình Triều Nguyễn; Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca Quan họ Bắc Ninh; Hát Ca Trù;  Hội Gióng ở Đền Phù Đổng và Đền Sóc; Hát Xoan Phú Thọ; Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ; Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ; Dân ca Ví, Dặm ở Nghệ Tĩnh; Nghi lễ và trò chơi Kéo co; Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt; Nghệ thuật Bài Chòi ở Trung Bộ; Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái và mới đây nhất là Nghệ thuật Xèo Thái.

1. Nhã nhạc cung đình Huế
          Nhã nhạc là âm nhạc cung đình thời phong kiến, được trình diễn trong các dịp triều hội, tế lễ hoặc các sự kiện trọng đại (lễ đăng quang của nhà vua, tiếp đón sứ thần…).
Được phát triển từ thế kỷ XIII ở Việt Nam, đến thời nhà Nguyễn, nhã nhạc cung đình Huế phát triển rực rỡ và đạt đến trình độ hoàn chỉnh nhất.
          Ngày 7/11/2003, nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.  Theo đánh giá của UNESCO, trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia. 
Đặc trưng của Nhạc cung đình là tính bao trùm đối với tất cả các bộ môn âm nhạc khác, từ Lễ nhạc (dùng vào các cuộc tế lễ lớn nhỏ của cung đình, trong các chùa miếu), nhạc thính phòng, sân khấu, kể cả các vũ điệu, mà mỗi bộ môn đều có những nghệ sĩ thượng thặng chuyên sáng tạo và biểu diễn. Các quy định về quy mô dàn nhạc, cách thức diễn xướng, nội dung bài bản... của Nhã nhạc đều rất chặt chẽ, phản ánh tính quy củ qua các định chế thẩm mỹ rất cao, có khả năng phản ánh tư tưởng, quan niệm triết lý của chế độ quân chủ đương thời. 

 


2. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
          Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng trên địa bàn năm tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.
        Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm các bộ phận cấu thành như: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng, những địa điểm tổ chức các lễ hội đó…
          Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân Tây Nguyên, như một phần không thể thiếu trong suốt vòng đời mỗi con người và trong hầu như tất cả các sự kiện quan trọng của cộng đồng: từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả cho đến lễ cúng máng nước, lễ mừng lúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ mừng nhà Rông mới…
          Ngày 25/11/2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

          3. Dân ca quan họ Bắc Ninh
          Quan họ là những làn điệu dân ca của vùng Đồng bằng Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang). Đây là hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ để biểu lộ tâm tình, ca tụng tình yêu thông qua những câu ca mộc mạc, đằm thắm. Hầu hết các bài Quan họ đều theo thể lục bát hay lục bát biến thể.
          Quan họ được thực hành trong các hoạt động văn hóa, xã hội của cộng đồng; được cộng đồng lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ, trở thành bản sắc của địa phương và lan tỏa trở thành không gian văn hóa đặc thù.
          Ngày 30/9/2009, dân ca quan họ Bắc Ninh chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          4. Ca trù
          Ca trù (hay còn gọi là hát ả đào) có vị trí đặc biệt trong kho tàng âm nhạc truyền thống của Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, tư tưởng và triết lý sống của người Việt. Loại hình nghệ thuật này rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt văn hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX trở về trước.
          Trong lịch sử, ca trù thường được trình diễn ở các đình làng, đền thờ thần, nhà thờ tổ nghề, ca quán và dinh thự của quan lại, trí thức… Bởi vậy, ca trù có nhiều hình thức thể hiện như: hát thờ, hát thi, hát tế tiên sư…
Ngày 1/10/2009, ca trù đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

          5. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc
          Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (Hà Nội) gắn với truyền thuyết về một cậu bé được mẹ sinh ra một cách kỳ lạ ở làng Phù Đổng.
Hội Gióng ở đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm - nơi Thánh Gióng sinh ra) diễn ra từ ngày 7/9 tháng tư Âm lịch. Hội Gióng ở đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn nơi Thánh hóa, cưỡi ngựa về trời) diễn ra từ ngày 6/8 tháng Giêng Âm lịch.
          Ngày 16/11/2010, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc chính thức được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          6. Hát Xoan
          Hát Xoan còn có tên gọi khác là Hát Lãi Lèn, Hát Đúm, Hát Thờ, Hát Cửa đình, bắt nguồn từ hình thức hát thờ các Vua Hùng. Đây là một trong những nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của nhân dân Phú Thọ.
          Nghệ thuật Hát Xoan khi được trình diễn đầy đủ sẽ diễn ra theo các chặng sau: Hát Thờ (tưởng nhớ các Vua Hùng, các vị thần, những người có công với dân, với nước và tổ tiên của các dòng họ), Hát Nghi lễ (ca ngợi thiên nhiên, con người, đời sống sản xuất, sinh hoạt của cộng đồng), Hát Hội (bày tỏ khát vọng trong cuộc sống, tình yêu nam nữ với những làn điệu đậm chất trữ tình, vui nhộn, được thể hiện qua hình thức hát đối đáp giữa trai, gái làng sở tại và các đào, kép của phường Xoan…).
          Ngày 24/11/2011, Hát Xoan được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Và ngày 8/12/2017, Hát Xoan được UNESCO đưa ra khỏi Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp để ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          7. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
          Theo truyền thuyết, Hùng Vương là con của cha Lạc Long Quân (giống Rồng) và mẹ Âu Cơ (giống Tiên), đã có công dựng nên nhà nước Văn Lang cổ đại. Đối với cộng đồng dân cư xung quanh khu vực Đền Hùng (Phú Thọ), Hùng Vương còn là thần tổ gắn với nghề nông, dạy dân cày ruộng, cấy lúa, ban linh khí cho đất đai, nhà cửa, cây trồng, vật nuôi sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu.
Với niềm tin thành kính này, từ hàng nghìn năm qua, người Việt Nam đã sáng tạo, thực hành, vun đắp và lưu truyền Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương để thể hiện sự biết ơn với vị thủy tổ. Biểu hiện tiêu biểu nhất cho Tín ngưỡng thờ cúng Hùng vương ở Phú Thọ là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, được thực hiện vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch hằng năm tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng.
          Ngày 6/12/2012, tín ngưỡng thờ cúng Hùng vương được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          8. Đờn ca tài tử Nam Bộ
          Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX trên cơ sở của nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian.
          Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ không ngừng được sáng tạo nhờ tính ngẫu hứng và sự biến hóa theo cảm xúc của người thực hành trên cơ sở của 20 bài gốc (bài Tổ) và 72 bản nhạc cổ.
          Nhạc cụ tham gia trình diễn bao gồm: đàn kìm, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn bầu, đàn cò, sáo, tiêu, song loan và hai nhạc cụ của phương Tây (violon và guitar đã được “cải tiến: violon được lên dây quãng 4, còn guitar được khoét phím lõm, để tăng sự nhấn nhá trong điệu đàn).
Ngày 5/12/2013, Đờn ca tài tử Nam Bộ chính thức được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          9. Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh
          Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là hai lối hát dân ca không có nhạc đệm, do cộng đồng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo, lưu truyền trong quá trình lao động sản xuất và gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư xứ Nghệ.
          Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ thường được thực hành trong cuộc sống: lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa… Bởi vậy, những lối hát này được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt như: Ví phường vải, Ví phường đan, Ví phường nón, Ví phường củi, Ví trèo non, Ví đò đưa, Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên…
          Ngày 27/11/2014, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          10. Nghi lễ và trò chơi kéo co
          Nghi lễ và trò chơi kéo co được thực hành rộng rãi trong văn hóa trồng lúa ở nhiều nước Đông Á với ý nghĩa cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu hay những tiên đoán liên quan đến sự thành công hay thất bại của nỗ lực trồng cấy.
          Tại Việt Nam, nghi lễ và trò chơi kéo co tập trung ở vùng trung du, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ với trung tâm là các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, di sản còn được thực hành thường xuyên bởi các tộc người ở miền núi phía Bắc như người Tày, người Thái và người Giáy (Lào Cai) - vốn là những cư dân trồng lúa sớm trong lịch sử.
          Ngày 2/12/2015, Nghi lễ và trò chơi kéo co ở Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc và Philippines chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          11. Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt
          Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là sự hỗn dung tôn giáo bản địa của người Việt và một số yếu tố của tôn giáo du nhập như Đạo giáo, Phật giáo.
          Từ thế kỷ XVI, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân Việt Nam.
          Ngày 1/12/2016, di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          12. Nghệ thuật Bài chòi
          Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam (ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Đà Nẵng) ra đời từ nhu cầu liên lạc với nhau giữa các chòi canh trên nương rẫy.
Đây vừa là loại hình nghệ thuật diễn xướng mang tính sáng tạo ngẫu hứng vừa là trò chơi dân gian vui nhộn, đầy trí tuệ (kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học). Bài Chòi có hai hình thức chính: "Chơi Bài Chòi" và "Trình diễn Bài Chòi".
          Ngày 7/12/2017, Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

13. Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái
Hát Then là một loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm: ca, nhạc, múa và diễn trò. Thực hành Then là nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh của  người Tày, Nùng, Thái, phản ánh quan niệm của họ về con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ.
Thực hành nghi lễ then được dùng trong những sự kiện trọng đại, chúc mừng năm mới hay trong lễ cầu an, giải hạn, cầu mùa, xuống đồng, chúc phúc…
Ngày 13/12/2019, Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

14. Nghệ thuật Xòe Thái
Nghệ thuật Xòe Thái là loại hình múa truyền thống đặc sắc, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của cộng đồng người Thái ở 4 tỉnh Tây Bắc của Việt Nam là: Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Yên Bái.
Động tác cơ bản của Xòe là tay giơ lên cao, mở tay ra, hạ tay xuống, nắm lấy tay người bên cạnh rồi cùng bước chân nhịp nhàng, ngực hơi ưỡn, lưng ngả về phía sau. Âm nhạc cho múa Xòe cũng thể hiện quan điểm về thế giới quan, nhân sinh quan của người xưa.
Điệu xòe giúp con người quên đi những mệt nhọc của cuộc sống, các đôi trai gái có cơ hội gần nhau hơn để thể hiện tình cảm riêng tư của mình…
Trong khuôn khổ Kỳ họp lần thứ 16 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 13 đến 18/12/2021) tại Paris (Pháp), hồ sơ Nghệ thuật Xòe Thái đã được UNESCO ghi danh là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại./.

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2024

Thấy gì qua phân đoạn trong lễ hội sông nước 2024!

(ĐQT)- Nguồn Từ Tạp chí đu càng
https://www.youtube.com/post/UgkxZANgZqjCMkkGNcl1NRmeFnJmrZQYqYz-

Một trong khoảnh khắc anh hùng và cảm động nhất trong màn đồng diễn nhạc kịch tại Lễ hội Sông Nước thành phố Hồ Chí Minh vào tối qua. Đó là phân đoạn chiến sĩ đặc công nước Rừng Sác chiến đấu với cá sấu và bị cá sấu ngoạm vào thân.
Phân cảnh này tái hiện lại những trang hồi ký của phóng viên, nhiếp ảnh gia chiến trường Đỗ Trọng Hội. Khi ông kể lại rằng trong lúc tác nghiệp ở Rừng Sác, ông đã chứng kiến cảnh những chiến sĩ đặc công Rừng Sác bị cá sấu cắn đứt đôi người, trong giờ phút cuối cùng, chiến sĩ ấy vẫn kịp dùng dao đâm vào đỉnh đầu cá sấu, để con cá sấu này không thể hại được thêm một đồng đội nào nữa... 
Trong những cuốn nhật ký của ông, có ghi lại rằng, điều đau lòng là đi thu lượm thi thể đồng đội hy sinh ở Rừng Sác, hầu như đều không toàn vẹn. Có người bị cắn mất hết chi dưới rồi mất máu đến chết, có người bị mất tay nhưng bị nhiễm trùng rồi cũng hy sinh vài ngày sau đó, có rất nhiều người không toàn vẹn… Nhiều khi, mổ bụng cá sấu lại thấy xuất hiện những kỉ vật của đồng đội, như một cây bút viết, chiếc đồng hồ, chiếc nhẫn được đánh từ vỏ đạn, sợi dây chuyền được nối cắt ra từ vũ khí của địch... 
Nhưng bi thương mà thế hệ chúng ta không thể tưởng tượng ra được. 




Thứ Tư, 14 tháng 6, 2023

Fulro: Hồ sơ đen về một tổ chức tội ác (Kỳ 1)

(ĐQT)- Fulro, dưới bàn tay giật dây của các thế lực thù địch, trở thành một tổ chức phản động cực kỳ nguy hiểm. Cái tên của tổ chức ấy gắn với sự đen tối, là bóng ma hãi hùng ám ảnh vùng đất Tây Nguyên. Mặc dù hiện nay, tổ chức Fulro đã bị xóa sổ, nhưng tàn dư của nó vẫn chưa thực sự chấm dứt, vẫn tồn tại trong “vấn đề Tây Nguyên” thông qua hình thức khác. Với loạt bài hồ sơ – tư liệu dài kỳ, chúng tôi xin góp phần tái hiện lại phần nào hoạt động và bản chất của tổ chức tội ác này. Đồng thời xin được tôn vinh những chiến công của quân và dân Tây Nguyên trong sự nghiệp đấu tranh đầy cam go và mất mát, hy sinh nhằm chống lại những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ sự bình yên cho mảnh đất hùng vĩ trong lòng Tổ quốc…

Từ BaJaRaKa đến Fulro

Theo dòng lịch sử, tiền thân của tổ chức Fulro đã có từ thời đất nước ta còn chưa sạch bóng ngoại xâm. Nhiều tài liệu trong và ngoài nước thể hiện, với chủ trương đấu tranh bất bạo động yêu cầu chấm dứt mọi chính sách phân biệt đối xử đối với các sắc tộc thiểu số Việt Nam của nhà cầm quyền Ngô Đình Diệm, ngày 1-5-1958, một số trí thức người Tây Nguyên (từ dùng của thời kỳ đó là: người Thượng), do ông Y Bham Ênuôl người Ê Đê chủ xướng, đã thành lập một tổ chức có tên gọi BaJaRaKa. Mục tiêu kết nối các sắc tộc được cho là mạnh nhất và sinh sống lâu đời ở Tây Nguyên, BaJaRaKa là chữ viết tắt tên của bốn dân tộc chủ yếu: Bahnar (người Ba Na), Djarai (người Gia Rai), Rhadé (người Ê Đê) và Kaho (người Cơ Ho).




Chỉ sau hai tháng kể từ ngày thành lập, với chữ ký của ông Y Bham Ênuôl, ngày 25/7/1958, BaJaRaKa gửi thư đến Tòa đại sứ Pháp, Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc tố cáo những hành vi phân biệt sắc tộc của nhà cầm quyền và yêu cầu các cường quốc can thiệp để người Thượng được độc lập trong khối Liên hiệp Pháp hoặc dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ. Tiếp đó, các tháng 8 và 9 của năm này, BaJaRaKa tổ chức nhiều cuộc biểu tình thỉnh nguyện tại Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Pleiku nhưng các cuộc biểu tình này đều bị trấn áp. Tất cả những người được cho là lãnh đạo của phong trào này đều bị bắt, trong đó có ông Y Bham Ênuôl.

Trước đó, từ năm 1956, thực thi mục tiêu chống cộng ráo riết, triệt để của Hoa Kỳ, các cố vấn quân sự Mỹ vào tận các buôn làng, đào tạo và trang bị vũ khí cho thanh niên Thượng. Họ tổ chức thành các đội Dân sự Chiến đấu Thượng (Civilian Indigenous Defense Group, CIDG) và Lực lượng Đặc biệt. Cuộc đảo chính của phe quân sự dưới sự hỗ trợ của CIA đã lật đổ chính thể họ Ngô vào năm 1963, với sự kiện này, tất cả những người lãnh đạo của BaJaRaKa được trả tự do. Sau đó, nhằm giảm bớt sức ép chính trị, đồng thời thực hiện mưu đồ “dùng người Thượng cai trị người Thượng”, nhà cầm quyền Sài Gòn đã bổ nhiệm một loạt các thủ lĩnh của phong trào này vào các chức vụ chủ chốt ở các tỉnh Tây Nguyên. Trong đó, ông Y Bhăm Ênuôl trở thành phó tỉnh trưởng tỉnh Đắc Lắc, ông Paul Nưr là phó tỉnh trưởng tỉnh Kon Tum. Tháng 3-1964, một lần nữa được sự ủng hộ của người Mỹ, những người lãnh đạo BaJaRaKa kết hợp với các sắc tộc Thượng khác và người Chăm tại duyên hải miền Trung thành lập “Mặt trận Giải phóng Cao Nguyên” (FLHP). Thế nhưng, ngay từ khi thành lập, “mặt trận” này đã phân chia thành hai phe đối nghịch nhau: phe ôn hòa do Y Bham Ênuôl đại diện và phe chủ trương bạo động do Y Dhơn Adrong cầm đầu.

Trong hai tháng 3 đến 5-1964, phe bạo động trong FLHP bị quân đội Sài Gòn mở các chiến dịch truy quét gắt gao phải chạy qua Campuchia lập căn cứ tại tỉnh Mondolkiri, cách biên giới nước ta 15 km. Tại căn cứ này, họ tiếp tục tuyển mộ thanh niên Thượng tham gia FLHP chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ngày 19-9-1964, các toán biệt kích thuộc Lực lượng Đặc biệt và các đội Dân sự Chiến đấu Thượng nổi dậy đánh chiếm một số đồn ở Quảng Đức (nay là Đắc Nông) và Đắc Lắc giết chết 35 binh sỹ VNCH, bắt sống quận trưởng Đức Lập; đánh chiếm đài phát thanh Buôn Ma Thuột và kêu gọi người dân tham gia nổi dậy thành lập quốc gia độc lập. Ngày 20-9-1964, chuẩn tướng Vĩnh Lộc, Tư lệnh Vùng II Chiến thuật đã lệnh cho Sư đoàn 23 bộ binh cùng một số tiểu đoàn biệt động quân và thiết giáp vây quanh đài phát thanh, và những đồn bị chiếm đóng. Thế nhưng, ngay thời điểm đó, Vĩnh Lộc nhận được khuyến cáo của Beachner, tham tán thứ ba tòa đại sứ Mỹ trên Cao Nguyên là dừng ngay lệnh nổ súng và tiến hành thương thuyết. Ngay sau đó, một cuộc thương lượng có sự hiện diện của quan chức tòa đại sứ Mỹ, đi đến những thỏa thuận sau: Y Bham Ênuôl được cử làm chủ tịch chính thức phong trào FLHP; tuy nhiên ngay trong chiều 20-9-1964, ông ta đã trốn sang Campuchia. Thỏa thuận thứ hai là những người Thượng chỉ huy đợt tập kích này không bị truy tố và không bị truy đuổi khi rút quân qua Campuchia…

Như một cơ hội đã chín muồi cho một âm mưu lâu dài, cuộc thương lượng dưới sự “chủ trì” của người Mỹ chính là “bà đỡ” đảm bảo cho sự ra đời của một thế lực chính trị mới theo đúng ý đồ và sự sắp đặt của họ. Ngày 20-9-1964, tại Campuchia, “Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức” được thành lập (Front Uni de Lutte des Races Opprimées, đọc theo tiếng Pháp, viết tắt là FULRO (xin viết là Fulro). Mặt trận này bao gồm các thành phần: Mặt trận Giải phóng Champa (Front de Libération du Champa, FLC) tức Fulro Chăm, do Les Kosem (một tướng nhảy dù người Khmer gốc Chăm) lãnh đạo. Mặt trận Giải phóng xứ Campuchia Krom miền Tây Nam Việt Nam (Front de Libération du Kampuchea Krom, FLKK) tức Fulro Khmer, do Chau Dera làm đại diện và Mặt trận Giải phóng Cao Nguyên (Front de Libération des Hauts Plateaux, FLHP) tức Fulro Thượng, do Y Bham Ênuôl cầm đầu. Fulro đã tự “sản xuất” một lá cờ (hiệu kỳ) hình chữ nhật gồm ba sọc: màu xanh biển (tượng trưng cho biển cả), màu đỏ (biểu tượng của đấu tranh) và màu xanh lá cây (màu của rừng núi). Trên dòng sọc đỏ có ba ngôi sao trắng tượng trưng cho ba mặt trận của Fulro: Champa, Thượng và Campuchia Krom.

Fulro có ba cơ quan lãnh đạo: Hội đồng Tối cao do Chau Dera làm chủ tịch, Hội đồng Bảo trợ do Les Kossem làm chủ tịch, và Ủy ban Chấp hành Trung ương do Y Bham làm chủ tịch. Trong thực tế, vào thời điểm này, Y Bham Ênuôl không có thực quyền, người nắm hết mọi quyền hành là Les Kosem. Trong khi đó, nhóm Fulro Thượng do Y Bham Ênuôl làm chủ tịch vẫn bị phân hóa thành hai như còn thời BaJaRaKa: nhóm dân sự ôn hòa do Y Bham Ênuôl lãnh đạo tiếp tục chủ trương vận động Hoa Kỳ làm áp lực với chính phủ Việt Nam Cộng hòa để Fulro Thượng được về Việt Nam hoạt động một cách chính thức; ngược lại, nhóm vũ trang do Y Dhơn Adrong cầm đầu vẫn kiên quyết chủ trương dùng bạo lực để thành lập một quốc gia độc lập của người Thượng trên cao nguyên…

Trong thời kỳ từ 1964 đến 1969 và ngay cả những năm sau ngày nước nhà thống nhất, “câu chuyện Fulro” rất dài dòng với nhiều biến cố và sự kiện xảy ra bởi những mâu thuẫn chồng chéo giữa Fulro với chế độ Việt Nam Cộng Hòa và các thế lực chính trị khác; giữa các nhân vật, các phái khác nhau chính trong tổ chức này. Cũng trong những năm này, Fulro liên tục thay đổi bộ máy cầm đầu, trong đó, có không ít kẻ bị đồng bọn ám sát trong quá trình thanh trừng, tranh giành quyền lực. Nói ra rất tốn giấy mực và thời gian của bạn đọc. Xin điểm thêm về sự kiện hiệp ước cuối cùng được ký kết vào ngày 1/2/1969 giữa Paul Nưr, đại diện Việt Nam Cộng Hòa và Y Dhê Adrong, đại diện Fulro dưới sự chủ tọa của Tổng thống Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu. Một số người trong các sắc tộc Thượng và Chăm không hài lòng với những điều khoản ký kết và vì vậy, Fulro tiếp tục đấu tranh, có lúc lộ diện, có lúc ẩn chìm.

Giai đoạn sau năm 1975

Năm 1975, chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, Fulro – dưới sự giật dây, hỗ trợ của các ông chủ từ xa, tiếp tục tổ chức quấy phá chống lại nước ta. Từ đầu năm 1975 đến năm 1977, Fulro tiếp tục tuyên truyền, kích động gây hận thù dân tộc và tiến hành tập kích vũ trang. Một tên thủ lĩnh khác là Y Djao Niê tổ chức lại Fulro đồng thời kêu gọi các nước Anh, Pháp, Mỹ và LHQ viện trợ. Từ năm 1982-1985, Fulro được các thế lực quốc tế và tàn quân Pôn Pốt tiếp sức, củng cố căn cứ ở Mondolkiri và đưa được các toán đặc biệt về vùng ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia lập “mật cứ” đón gián điệp, biệt kích, lực lượng lưu vong trở về như Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh và các toán phản động khác. Trong thời gian từ năm 1979-1985, hoạt động Fulro đã phá hoại cuộc sống bình yên của các thôn ấp, buôn làng, giết hại nhiều cán bộ, công an, dân quân và quần chúng tốt. Nhưng lực lượng công an, quân đội ta được nhân dân các đồng bào dân tộc ủng hộ đã đẩy mạnh công tác nghiệp vụ, đấu tranh thắng lợi trong hàng chục chuyên án, làm tan rã nhiều nhóm Fulro và đưa họ trở về với cộng đồng.

Ở Tây Nguyên, cuối thập niên 80, không còn mấy ai nhắc đến Fulro nữa. Cho đến năm 1992, vấn đề Fulro lại xuất hiện ở khu vực biên giới Thái Lan – Campuchia. Theo phóng viên người Mỹ Nate Thayer trên tờ New Straits Times: “Lực lượng mang tên là Fulro-Dega là một tổ chức vũ trang đặt dưới quyền lãnh đạo của đại tá Y Peng Ayun, vẫn tiếp tục liên hiệp với Khmer Ðỏ để chống lại Hà Nội. Sau 17 năm chống cộng, lực lượng của đại tá Y Peng Ayun chỉ còn lại khoảng 2.000 người. Từ biên giới Thái – Myanmar, Y Peng Ayun tuyên bố rằng, lực lượng Fulro-Dega sẽ tiếp tục đấu tranh cho tới khi nào Cộng Sản trao trả lại tự do cho dân tộc Tây Nguyên”. Năm 1994, khi LHQ đưa lực lượng quốc tế UNTAC vào thực hiện giải pháp chính trị ở Campuchia, Fulro không còn chỗ dựa. Với sự chấp thuận của Mỹ, tháng 12/1992, toàn bộ số Fulro còn lại gồm 407 tên do Y Peng Ayun cầm đầu đã ra hàng UNTAC, tuyên bố chấm dứt hoạt động chính trị và vũ trang, nộp vũ khí và được người Mỹ đưa đi định cư ở bang Colorado…

Hồ sơ về Fulro là hồ sơ về một tổ chức phản động, một tổ chức tội ác. Tổ chức đó đã bị xóa sổ trước tinh thần đấu tranh không mệt mỏi của quân và dân ta trong công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ và cuộc sống bình yên của nhân dân. Thế nhưng, tàn dư của nó vẫn còn khi vẫn còn đó những thế lực thù địch, những âm mưu đen tối chống phá đất nước và nhân dân ta. Lật lại hồ sơ Fulro, chúng tôi muốn gửi đến bạn đọc những thông tin dù đã từng xảy ra trong quá khứ, nhưng bài học cảnh giác thì luôn tươi mới.

Uông Thái Biểu

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

Bức thư gửi người đang sống

(ĐQT)-

Chuyện nước Mỹ của Tí2 giờ trước
BỨC THƯ GỬI CHO THẾ HỆ TƯƠNG LAI NHỮNG NGƯỜI ĐANG SỐNG... --- Đoạn trích một bức thư được gói kỹ càng để lại giữa cánh rừng nguyên sinh tại thượng nguồn sông Đồng Nai bên cạnh 3 bộ hài cốt của 3 chiến sĩ thuộc Tiểu đội 1 (Trung đội Ký Con, Trung đoàn Bình Giã, Quân giải phóng miền Nam). Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. "Chúng tôi mong được ghi nhận rằng chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và đã ch.ết trong một mùa Xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái ch.ết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn... Xin cho chúng tôi gởi đến những người đang sống, sống đúng ý nghĩa của nó lời biết ơn sâu sắc vì các bạn đang làm cho cái ch.ết của chúng tôi giữ được đầy đủ ý nghĩa. Các bạn đang lao động quên mình cũng như chúng tôi đã chiến đấu quên mình cho đất nước ta ngày nay tươi đẹp, cho dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, cho xã hội ta ngày càng dân chủ công bằng". Sự hy sinh rất đỗi bi hùng của những chiến sĩ Giải phóng quân và những dòng thư họ để lại như một lời ca bất tử của tuổi trẻ Việt Nam thời thắng Mỹ, là cảm nhận của người đọc khi bắt gặp bức thư này trong tập sách Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của Cố Thượng tướng Trần Văn Trà, do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành nhân kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ và lần thứ 60 Quốc khánh 2/9. Lộ trình đến với bức thư “có một không hai” này được Cố Thượng tướng Trần Văn Trà kể lại: Vào mùa xuân năm 1984, trong một chuyến khảo sát để quy hoạch cơ sở sản xuất, đoàn cán bộ Nông trường “Giải phóng” – tỉnh Sông Bé (nay thuộc Bình Dương) do đồng chí Nhân – Thượng tá quân đội chuyển ngành, nguyên cán bộ Trung đoàn Bình Giã - dẫn đầu, ngược thượng nguồn sông Đồng Nai tới một vùng đồi rừng nguyên sinh đã xúc động, bàng hoàng trước một cảnh tượng rất đỗi thiêng liêng. Trên 3 chiếc võng dù cùng cột chung đầu vào một thân cây, là 3 bộ hài c.ốt của 3 chiến sĩ Quân giải phóng. Cạnh mỗi bộ hài cốt là một kh.ẩu AK han rỉ, một đôi dép cao su. Những bí ẩn về sự hy sinh của 3 chiến sĩ giải phóng quân nhanh chóng được “giải mã” bởi bức thư bọc gói kỹ càng trong ni lông và được cột chặt ở đầu võng. Tuy những dòng viết run rẩy, nguệch ngoạc (vì bị thương, đói, khát), nhưng với những ý tứ, câu từ rất sáng rõ. Những người viết tự giới thiệu: “Chúng tôi: 1. Lê Hoàng Vũ, quê Thái Bình; 2. Nguyễn Chí, quê Quảng Ngãi; 3. Trần Viết Dũng, quê thành phố Sài Gòn, chiến sĩ thuộc Tiểu đội 1, Trung đội “Ký Con”, Trung đoàn BG (Bình Giã), Quân giải phóng miền Nam…” Những dòng thư đưa người đọc trở lại với một sự kiện lịch sử xảy ra cách hôm nay (2022) gần 57 năm. Ngày đó, sau trận tập kích của Trung đoàn Bình Giã và một số đơn vị khác thuộc Bộ Tư lệnh Miền, diệt một lực lượng lớn quân Mỹ – Ngụy ở Bông Trang – Nhà Đỏ (Thủ Dầu Một), tháng 2/1966, trên đường rút về hậu cứ, một tiểu đội, trong đó có các anh Vũ, Chí, Dũng, được phân công nghi binh, đánh lạc hướng địch, để trung đoàn trở về an toàn. Một tiểu đội 11 người với những chiếc bật lửa và vài chiếc máy thông tin, mỗi người một khẩu AK đã làm tròn nhiệm vụ tạo dấu vết một trung đoàn hành quân về hậu cứ sau trận tập kích thắng lợi. Sau mấy ngày băng rừng, vượt suối, hứng chịu hàng chục phi vụ rải thảm của B52, 8 người hy sinh; phương tiện thông tin hư hỏng.

Vượt qua những ngày “đói quay đói quắt…, khát như khô cháy cả ruột gan…” và mang trên mình đầy thương tích, 3 chiến sĩ còn lại đã tới được cánh rừng này. Sức kiệt, không thể đi tiếp, không còn phương tiện thông tin, các anh quyết định dừng lại và “chọn khu rừng đẹp đẽ này làm nơi an nghỉ cuối cùng…”. Chúng ta hãy nghe các anh tâm sự: “Quyết định rồi chúng tôi tự thấy khoan khoái lạ thường. Sáng suốt hẳn lên… Dừng lại ở đây với một ít sức lực còn lại viết một tường trình cuộc chiến đấu gửi lại cho ai đó tìm được… Mỗi người đứng trước cái ch.ết của mình cố gắng dùng một chút sức còn lại, quả thật rất ít ỏi, để thay nhau chấp bút. Chúng tôi đã chọn cây gỗ tơ còn sống lâu này làm trụ, giúp nhau mắc võng cho từng người, thống nhất nhau tư thế nằm trên võng, sắp xếp vài đồ vật còn lại… Chúng tôi sẽ ch*ết ung dung thư thái như đã từng sống mãnh liệt mà thư thái với công việc chúng tôi đã làm…”. Sau khi chọn cho mình cái ch.ết, 3 chiến sỹ – người yếu viết trước, người còn sức dành viết sau; các anh dồn chút sức lực còn lại viết về cuộc chiến đấu trong mấy ngày qua, về sự hy sinh của đồng đội; những tình cảm thân thương da diết đối với bố, mẹ, vợ con, người thân, quê hương… và bày tỏ niềm tin vào ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ toàn thắng. Lần lượt, Lê Hoàng Vũ, Nguyễn Chí vĩnh viễn ra đi. Người để lại những dòng lưu bút cuối cùng là Trần Viết Dũng. Xin được dẫn những dòng như dứt, rút từ gan ruột của anh: “…Nhưng rồi các bạn giục kết thúc lá thư đi thôi. Thời gian không chờ chúng tôi nữa. Chúng tôi đã cảm thấy sắp đến giờ phải từ giã cõi đời này rồi. Trước khi ra đi, thư phải được bảo quản cẩn thận để tránh thời gian mưa nắng phũ phàng. Thư. Thư phải về tới tay những người đang sống… Nếu lá thư này được về với đồng đội chúng tôi trong Trung đoàn BG quân giải phóng miền Nam hay một đơn vị bạn nào đó qua đây, xin chuyển lên giùm cấp trên. Tiểu đội Giải phóng quân chúng tôi trong Trung đội “Ký Con” đã hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi mong được ghi nhận rằng chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và đã chết trong một mùa Xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn. Còn như chúng tôi được phát hiện muộn hơn sau 5 năm – 10 năm – tự do quý giá, thì xin cho chúng tôi – gởi đến những người đang sống, sống đúng ý nghĩa của nó, trong một thời đại vinh quang, lời biết ơn sâu sắc vì các bạn đang làm cho cái ch.ết của chúng tôi giữ được đầy đủ ý nghĩa. Các bạn đang lao động quên mình cũng như chúng tôi đã chiến đấu quên mình cho đất nước ta ngày nay tươi đẹp, cho dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, cho xã hội ta ngày càng dân chủ công bằng. Hay trong trường hợp đến 50-100 năm sau, thư này mới tới những người, có thể gọi là thế hệ mai sau, thì cho phép chúng tôi gửi lời chào xã hội chủ nghĩa, cho phép chúng tôi bày tỏ vui mừng tuyệt diệu vì hạnh phúc và hòa bình đang tràn ngập hành tinh chúng ta mà chúng tôi trở thành những hạt bụi có ích – Và hơn thế nữa nếu được, cho chúng tôi gửi lời chào niềm nở nhất đến những con người ở những vì sao xa xôi, những người bạn mới giữa các hành tinh. Mùa Xuân giữa rừng miền Đông Nam Bộ. Vũ-Chí-Dũng”. Xin được nghiêng mình trước những gương hy sinh nghĩa liệt, trước những dòng huyết thư như một lời ca bất tử của những người anh hùng đất Việt thời thắng Mỹ. ST
Ẩn bớt

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2021

Kostas Saratidis - Nguyễn Văn Lập: Một người lính da trắng của Bác Hồ

(ĐQT)-Kostas Saratidis, tên tiếng Việt là Nguyễn Văn Lập, người nước ngoài duy nhất được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND, chứng nhân lịch sử, một người lính da trắng của Bác Hồ.
Bà con trong cộng đồng người Việt ở Thủ đô Athens gọi một người Hy Lạp với cái tên thân mật là “bác Tháng 2/1946, chàng thanh niên Hy Lạp Kostas Sarantidis có mặt trong đội quân viễn chinh của thực dân Pháp đổ bộ lên Sài Gòn. Anh nghe người Pháp nói lính lê dương Pháp sang Đông Dương để  "giải phóng" các xứ ở đây, chống phát xít Nhật. Nhưng sau đó anh nhanh chóng nhận ra tất cả những gì người Pháp nói chỉ là chém gió, những gì họ làm đó là tàn sát và xâm lược.

Sau này, ông nhớ lại:

Tuy mới 18 tuổi đời, chưa hiểu nhiều về cuộc sống và chính trị, nhưng với truyền thống yêu tự do của người dân Hy Lạp đã từng trải qua 400 năm dưới ách thống trị của quân Thổ Nhĩ Kỳ, sau nhiều đêm thức trắng, tôi quyết định đi theo Việt Minh, dù cũng chưa hiểu rõ Việt Minh là thế nào...”.

Thời gian đầu chiến sĩ “mắt xanh mũi lõ” Nguyễn Văn Lập được giao nhiệm vụ làm công tác địch vận tại Quảng Nam - Đà Nẵng. Đến cuối năm 1946, chiến sĩ Lập đã lôi kéo được tới 40 lính lê dương khác gia nhập đội quân cách mạng. Sau đó Lập được phiên vào biên chế Tiểu đội 3, Đại đội 39 do ông Đàm Quang Trung thời đó làm Đại đội trưởng. Chiến sĩ Lập đã chiến đấu dũng cảm như một người lính Cụ Hồ thực thụ trong suốt gần “9 năm làm một Điện Biên”.



Hòa bình lập lại tại miền Bắc, năm 1956 ông xuất ngũ rồi đi làm phiên dịch tiếng Đức ở nhà máy in Tiến Bộ. Thỉnh thoảng ông Lập còn được hãng phim truyện mời đi đóng phim. Năm 1958, ông kết hôn với một cô gái Hà Nội, người được ông mô tả là "cực xinh", sinh được bốn người con, một trai ba gái, tất cả đều lấy tên Việt Nam là Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Nguyễn Thị Bạch Nga và Nguyễn Thị Tự Do.

Hà Nội thời chiến tranh và bao cấp đã tôi luyện chàng trai người Hy Lạp trở thành một người Việt thực thụ, một người chồng người cha tận tụy cần mẫn với gia đình. Năm 1965, ông cùng vợ con trở về Hy Lạp qua con đường Sứ quán Hy Lạp tại Mátxcơva.

Cuộc sống bên Hy Lạp của ông cũng vất vả không kém, ông bảo : “Tôi đã mang vợ nước ngoài về thì không bao giờ bắt vợ đi làm. Tôi quyết tâm dù phải vất vả 18 thậm chí 24 tiếng mỗi ngày cũng phải làm để nuôi vợ con. Tôi suốt đời hy sinh cho… vợ con”. Về Hy Lạp ông làm nghề lái xe tải hạng nặng nhờ có bằng lái xe ở VN. Từ khi trở về, Nguyễn Văn Lập thường xuyên theo dõi tình hình chiến sự VN qua đài Trung Quốc phát bằng tiếng Pháp.

"Thời điểm giải phóng miền Nam bác có vui mừng ?"  -  ông đáp “Mừng là thế nào, xúc động đến rụng rời chân tay đi ấy chứ

Viết sẵn di chúc trước khi sang Việt Nam

Cuối tháng 8/2013, Kostas Saratidis - Nguyễn Văn Lập đáp chuyến bay từ Thủ đô Athens (Hy Lạp) sang Hà Nội dự lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân do Nhà nước Việt Nam trao tặng. Sang Việt Nam, Nguyễn Văn Lập như được về lại nhà mình, ông thấy khỏe ra nhiều. Ông cười bảo, lần này mới là lần thứ tám, ông sẽ tiếp tục đến Việt Nam và phấn đấu có tới 10 lần trở lại mảnh đất này. Cô con gái Bạch Tuyết đi cùng ba tuy bập bẹ chút ít tiếng Việt cũng kịp “tiết lộ” : “Gia đình cháu và bác sĩ không ai đồng ý để ba sang đợt này, nhưng ba cháu quyết tâm lắm, ba đã viết sẵn di chúc và bảo: Nếu có chết thì cũng nằm lại quê hương thứ hai!”. 

Nói tới 8 chuyến đi trở lại Việt Nam, tôi tò mò hỏi rằng, với mức lương hưu ít ỏi của mình, ông lấy đâu ra tiền để mua vé máy bay? Ông cười khà khà rồi nháy mắt kể: Mỗi sáng, vợ ông phát cho ông 3 euro để đi uống cà phê, ông đã “trốn” không uống mà để dành những đồng tiền ấy để mua vé.

Ông còn kể rằng lần nào trước khi sang Việt Nam, ông cũng viết di chúc để lại, dặn dò vợ con là nếu chẳng may có mệnh hệ gì thì dứt khoát không đưa ông về Hy Lạp mà hãy chôn cất ông ở Việt Nam, vì với ông, Việt Nam cũng chính là Tổ quốc, là quê hương như đất nước Hy Lạp mà ông đang sinh sống.

Có một chi tiết ấn tượng về ông, đó là khi được giới thiệu lên phát biểu, Kostas Sarantidis luôn kính cẩn cúi đầu chào trước tượng Bác, rồi bước đến bục phát biểu. “Tôi thích được gọi là Nguyễn Văn Lập hơn là Kostas Sarantidis. Bởi cái tên này gắn với những kỷ niệm không thể nào quên với nước Việt Nam của cụ Hồ. Các bạn Việt Nam đã giúp tôi hiểu thế nào là độc lập tự do”

Mỗi lần về Việt Nam, những đồng đội cũ chào đón ông không chỉ bằng tình đồng chí mà còn bằng tình anh em khiến ông thấy vô cùng ấm áp. Ông lại cùng các đồng đội cũ đi thăm và tặng quà, hỗ trợ tiền cho người dân Quảng Ngãi bị lụt bão, giúp các bệnh nhi ở Đà Nẵng, Hà Nội mổ tim từ tiền bán sách Tại sao tôi về với Việt Minh do ông viết. Để giúp đỡ các nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam, năm 2009, ông đã vận động thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam - Hy Lạp do ông làm chủ tịch để quyên góp gây quỹ.

Hiện nay gia đình ông có 8 cháu nội ngoại, sinh sống ở thủ đô Athens và các thành phố khác. Yêu và gắn bó với Việt Nam, Kostas Lập không chỉ đặt tên cho con mà đến cháu cũng lấy tên Việt (Nguyễn Phục Sinh, Nguyễn Hồ Minh…), thậm chí hòm thư báo trước cổng nhà trên đường phố Rodos ở thành phố Athens ông cũng ghi cả 2 cái tên Việt Nam và Hy Lạp: Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập.

Một lần khi PV hỏi ông về vấn đề biển đảo (Trung Quốc). Ông nói:  "Tôi bực mình lắm. Tôi không ngờ. Anh em mất ý nghĩa anh em, tình đống chí mất ý nghĩa tình đồng chí. Tôi ở xa, vẫn hy vọng TQ là 1 nước cộng sản, VN thì thế, nước XHCN như thế. Thực ra tôi biết từ lâu rồi, những cái hành động của TQ, tôi ko có gì lạ. Từ Bác Hồ năm 46, rồi hiệp định Geneva, rồi bài học vừa rồi mấy năm về trước, rồi Campuchia, vv... Đến cái bước này là tôi ko ngờ ..."


Thứ Năm, 24 tháng 6, 2021

CHÂN DUNG MỘT ĐẠI TƯỚNG ANH HÙNG

Đại tướng Obaturov - người sau khi biết Trung Quốc tấn công Việt Nam vào tháng 2/1979 đã nhanh chóng thành lập đoàn gồm 20 tướng lĩnh cấp cao khác do mình đứng đầu và bay đến Hà Nội sát cánh cùng nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc.

Ông nổi tiếng là người có tư duy chiến thuật cao, kinh nghiệm xông pha trận mạc, có bản lĩnh,biệt danh là "cuốn bách khoa sống". Hay tin Việt Nam bị Trung Quốc tấn công, ông đã thành lập đoàn chuyên gia quân sự để hỗ trợ ta, trong khi chiến sự đang diễn ra ác liệt, dù phía ta có can ngăn nhưng Đại tướng Obaturov vẫn đích thân trực tiếp đi thị sát tình hình tại Lạng Sơn (trong lần đi thị sát này đoàn xe của ông suýt trúng pháo của Trung Quốc). Trở về, Đại tướng Obaturov đưa ra nhận định tình hình và lập một bản báo cáo gửi về Liên Xô, trong đó ghi rõ phải viện trợ cho Việt Nam vũ khí nào? phương tiện gì để chúng ta đánh chặn được quân bành trướng. Trong thời gian giúp ta đánh đuổi Trung Quốc, có một người trong đoàn chuyên gia quân sự hi sinh, đó là Thiếu tướng Malykh. Sau cuộc chiến tranh biên giới đó, Đại tướng Obaturov còn ở lại Việt Nam thêm 3 năm nữa nhằm giúp Việt Nam nâng cao sức mạnh quân sự rồi mới trở về nước.

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2021

Tướng Ngụy là ai?

(ĐQT)-Lúc quân đội tướng Giáp sắp đánh bại đế quốc thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ thì tướng lĩnh "phe quốc gia" ở đâu ? ***

Phạm Văn Phú, Thiếu tướng, Tư lệnh QĐ2 Sài Gòn sau này, lúc đó là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu Đoàn 5 dù, sát cánh cùng quân Pháp phòng ngự tại Đồi C1. Tại đây, Phú tỏ ra rất máu chiến và trung thành, bắt nhịp cho lính Việt hát bài La Marseillaise (Quốc ca Pháp) để động viên sĩ khí xông lên phản kích chiếm lại đồi C2. Vì vậy, ngày 25/4, chỉ huy De Castries đặc cách thăng cấp cho Phú từ trung úy lên đại úy để khích lệ tinh thần, cổ vũ sự trung thành này. Cũng nhờ cái danh máu chiến, gan lỳ trong trận này, về sau, sau khi được Việt Minh thả ra, Phú nhanh chóng tạo được tên tuổi dưới thời đại của ông chủ mới - người Mỹ. Đỗ Cao Trí, Trung tướng QĐ2 chế độ "VNCH", thời điểm đó là Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 lính dù quân dù Liên hiệp Pháp, đang chuẩn bị sẵn lực lượng ở căn cứ Chí Hoà, Sài Gòn để sẵn sàng nhảy dù tiếp viện cho quân Pháp đang giãy chết tại Điện Biên. Lính dù Pháp về cuối trận không thể nhảy xuống được vì hoả lực và vòng vây ngày càng khép chặt nên kế hoạch không vận đơn vị Trí buộc phải dừng lại. Trí đã gặp may vì nếu không chết, có lẽ Trí đã gặp Phú khi vẫy cờ trắng cùng các quan thầy da trắng ra hàng tại đây. Thiệu, Kỳ, Khánh, Viên, Hinh, Đôn, Kim, Đính, Có, Loan, Xuân, Khiêm, Lãm, Nghi, Vĩ, Trưởng, Đảo, Dương Văn Minh ... khoảng 90% tướng lĩnh "VNCH" sau này thời điểm đó đang phục vụ dưới lá cờ "Quốc gia Việt Nam" - ngụy thể hư danh, hoàn toàn lệ thuộc và phục vụ cho mục tiêu tái xâm lược thuộc địa của thực dân Pháp. Diệm cũng là Thủ tướng (có xu hướng xa Pháp, thân Mỹ, Vatican hơn) của chế độ vốn do Pháp nặn ra và được Mỹ viện trợ từ năm 1949. Quân đội và cảnh sát "VNCH" về căn bản là bê nguyên bộ máy quân đội, cảnh sát "Quốc gia Việt Nam" vốn mang tai tiếng trong nhân dân cả nước là tay sai Tây (Pháp) suốt 7 năm, chỉ thay đổi cái tên gọi mà thôi. Cho nên dù tô vẽ thế nào, bóng ma tiền thân vốn là một quân đội tay sai vẫn ám ảnh sĩ quan và binh lính chế độ ngụy quyền Sài Gòn, như lời chính người trong cuộc - tướng Hạnh, tướng Khánh, tướng Kỳ, và tướng Dương Văn Minh đã từng thừa nhận. ***** Nguồn: Chiến tranh Việt Nam tư liệu và sự thật tổng hợp (Ảnh) Quân đội "Quốc gia Việt Nam", tiền thân của "VNCH" khi còn sát cánh cạnh cha ruột. Nguyễn Văn Nam

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

Chiến công thầm lặng của gia đình Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân

(ĐQT)-Từng là một cô giao liên nhỏ, sống trong lòng địch nhưng không hề sợ hãi, hằng ngày vẫn giúp mẹ vận chuyển thuốc để phục vụ cho cơ sở cách mạng. Đó là hình ảnh của cô Nguyễn Thị Kim Hữu – em gái của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân.
Cô Kim Hữu bên chiếc máy may của má Sáu

Khi chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” phát sóng ở số 14, dư luận rất cảm động với câu chuyện “chị em Bộ trưởng đi tìm ân nhân – bác sĩ Đề” (thời điểm bà Nguyễn Thị Kim Ngân giữ chức Bộ trưởng Bộ LĐTBXH). Lúc ấy, mọi người mới biết đến bà Sáu Sanh – mẹ Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã có những đóng góp thầm lặng cho cách mạng vào những năm tháng kháng chiến. Bà là người thu gom thuốc kháng sinh, bông băng y tế… phục vụ cho cách mạng khu vực miền Tây. Cũng nhờ đó mà biết đến vị bác sĩ Đề, mặc dù là cán bộ quân y của quân đội ngụy, nhưng lại giúp đỡ và hỗ trợ rất nhiều cho bà Sáu Sanh trong những chiến công thầm lặng này. Và cũng biết thêm về 2 cô giao liên nhỏ là Chủ tịch Quốc hội Kim Ngân và cô Kim Hữu, người vận chuyển chính những lô hàng thuốc vượt qua mặt địch một cách ngoạn mục để đến kịp đến với vùng chiến khu cho quân giải phóng. Để rồi sau bao nhiêu năm, nhớ lời di huấn của má lúc qua đời, họ vẫn cố gắng để đi tìm lại ân nhân của mình.

35 năm trước, đóng vai là những đứa trẻ hồn nhiên vô tư tuổi ăn, tuổi lớn, cô Kim Hữu và Chủ tịch Kim Ngân hay sang nhà bác sĩ Đề chơi. Sau đó, 2 chị em được chở về nhà trên chiếc xe Vespa màu trắng của bác sĩ Đề. Ít ai để ý rằng, mỗi lần đi chơi về 2 chị em lúc nào cũng xách theo một hũ mắm. Gọi là hũ mắm nhưng thực ra trong đó đựng toàn thuốc kháng sinh – thứ quý giá giúp bộ đội không bị nhiễm trùng vết thương, nhanh chóng khỏi bệnh để tiếp tục cầm súng chiến đấu.

Cô giao liên Kim Hữu ngày ấy mới 13 tuổi nhưng đã rất thành thạo trong việc đem các hũ thuốc đi giao cho các đầu mối ở Bến Tre. Cứ khoảng một tuần, sau khi má Sáu Sanh gom đủ thuốc là cô Kim Hữu lại lên đường. Có lúc thì đi một mình, có khi được bác Đề chở bằng xe máy. Người qua đường nhìn vào cứ tưởng cô bé này khó gần cái mặt cứ đăm đăm, mà đâu biết rằng cô Kim Hữu đang phải cảnh giác cao độ để phát hiện cảnh sát. Bến đò Bình Đại hoặc Hồng Vũ ngày ấy, thường xuất hiện một cô bé hay tới từ rất sớm, nhưng lại luôn lên sau cùng. Ít ai ngờ đó là chiến thuật của cô bé 13 tuổi Kim Hữu đến sớm giấu những bình thuốc xuống ghế của khách, rồi lên bờ ngồi đợi khi nào khách đông lại xuống và chỉ cảm thấy an toàn mới mang thuốc lên để đi giao. Và cứ như thế suốt những năm kháng chiến, cô giao liên nhỏ Kim Hữu đã vận chuyển được rất nhiều y, dược phẩm cho bộ đội ta lúc bấy giờ.

Cô giao liên nhỏ ngày ấy giờ đã 63 tuổi, vẫn sống ở ngôi nhà tại thành phố Mỹ Tho. Mặc dù, chị em phải xa cách khi Chủ tịch Quốc hội vì công tác phải sống ở Hà Nội nhưng cô Kim Hữu vẫn muốn gắn bó với ngôi nhà ghi dấu biết bao kỉ niệm của gia đình từ cái thời má Sáu mở tiệm may để làm căn cứ nuôi cách mạng đến giờ. Ấy vậy mà, không hiểu tại sao, mấy ngày nay trên mạng xã hội lại đồn thổi, thêu dệt chuyện cô là 1 trong 9 người bỏ trốn rồi mất tích tại chuyến công du ở Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, khiến người dân, chòm xóm hàng ngày vẫn tiếp xúc với cô cảm thấy khó hiểu, thế mà vẫn có không ít người vẫn tin như thật.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

Gương mặt đen- Lê Trung Khoa (Khoa khắm)

(ĐQT)-

Vậy Lê Trung Khoa là ai? để ông Henry Nguyễn phải buông lời khuyến cáo như vậy?. Về nhân thân, Lê Trung Khoa sinh năm 1971, quê quán Thanh Hóa, được bố mẹ cho ăn học đàng hoàng, tử tế nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, đề cao lối sống hưởng thụ, thực dụng, dẫn đến nợ nần túng quẫn không có khả năng thanh toán ngay khi vừa tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội. Nhờ có bố là lao động xuất khẩu tại Ðức, Khoa được đưa sang Đức vào năm 1993. Tại đây anh ta theo bố làm nghề lắp camera an ninh. Thời gian sau đó, nhờ trời phú cho dăm ba tài lẻ liên quan đến chữ nghĩa, Khoa đã lập và điều hành trang mạng Thoibao.de.

Những ngày đầu sơ khai, tờ này có nhiều thông tin thực sự hữu ích cho cộng đồng người Việt tại Đức. Cho nên, từ tinh thần đoàn kết dân tộc, mong muốn có một cầu nối truyền thông giữa cộng đồng người Việt ở Ðức với quê hương, tờ Vietnamnet đã ký thỏa thuận hợp tác để trao đổi thông tin. Nhưng chỉ sau thời gian ngắn, tờ báo này buộc phải đơn phương hủy bỏ thỏa thuận, vì Thoibao.de làm báo bịp bợm, thiếu khách quan, liên tục đưa tin sai sự thật, tiêu cực, gán ghép, bịa đặt trắng trợn về tình hình chính trị, xã hội, đất nước và con người Việt Nam. Trang mạng do Lê Trung Khoa làm chủ bút thậm chí còn trở thành “thánh địa” của các ổ nhóm phản động.

Trượt dài trên con đường lừa dối, để mưu cầu mục đích cá nhân và nuôi tham vọng, không có gì khó hiểu khi Lê Trung Khoa nhanh chóng quay lưng lại với đất nước của mình. Kể từ khi đổi hướng chính trị, với các bài viết chủ yếu đáp ứng nhu cầu của số người đọc có xu hướng chống phá, Thoibao.de chính thức trở thành một địa chỉ truyền thông chống Việt Nam nằm giữa châu Âu.

Ðể lừa dối người đọc, Lê Trung Khoa tự đánh bóng tên tuổi bằng cách rêu rao bản thân là “một nhà báo Ðức”, nhưng là loại tự xưng nên đến nay Khoa chưa hề có một bài báo nào do chính anh ta viết bằng tiếng Ðức được đăng tải. Anh ta kiếm tiền chủ yếu nhờ vào chạy quảng cáo trên trang mạng Thời báo và các clip phát tán trên Youtube. Cho đến nay, xem ra lối làm báo giả dối, thiếu khách quan, suy diễn, gán ghép, theo kiểu 3 không: KHÔNG CẦN NGUỒN, KHÔNG KIỂM CHỨNG, KHÔNG CƠ SỞ của thoibao.de đã trở thành trọng bệnh.

Lê Trung Khoa liên tục loan tải bài viết, clip trong đó bịa đặt, xuyên tạc, dựng chuyện một cách vô liêm sỉ về một số vấn đề liên quan kinh tế, chính trị, văn hóa ở Việt Nam; Bịa đặt tin tức về Biển Ðông để vu khống Việt Nam, đánh lừa dư luận, kích động chiến tranh; Móc nối, cấu kết cùng tổ chức vận động kêu gọi Chính phủ Đức tác động để EU không ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA); Sử dụng rất nhiều thông tin, sự kiện, hình ảnh không hề liên quan để tiến công một cách bỉ ổi vào sản phẩm xe hơi của Công ty VinFast; Lê Trung Khoa thậm chí còn như “ảo thuật gia” phù phép biến trắng thành đen, biến thành công của các chuyến công du của chính khách Việt Nam đền Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức… thành sự thất bại.

Với sự tham gia của mấy nhà ‘dân chủ’ đầy tai tiếng như Bùi Thanh Hiếu, Nguyễn Văn Đài… trang Thoibao.de của Khoa ngày càng lộng hành trở thành điểm đen trong các địa chỉ truyền thông của người Việt ở nước ngoài. Ðến nay, dù mọi dối trá, bịa đặt, bịp bợm, nhảm nhí đều bị dư luận vạch trần. Thậm chí, từ ngày có thêm hai ‘liền anh’ Hiếu, Đài những tay ‘buôn bán tin tức chính trị’ với kỹ năng hơn hẳn đã khiến Khoa ít nhiều bị lép vế, Lê Trung Khoa vẫn tiếp tục trơ tráo sử dụng Thoibao.de như một công cụ để thực hiện hành vi bất lương.

Trả lời câu hỏi vì sao Lê Trung Khoa hành xử như thế, trên mạng đã có người giải thích: Khoa muốn nộp đơn xin tị nạn, nhưng dễ bị bác bỏ vì không phải là người chạy trốn khỏi Việt Nam, lại phải chứng minh thu nhập đủ để nuôi bản thân, gia đình; phải chứng minh có khả năng sử dụng tiếng Đức… Nên với hy vọng, để đơn xin tị nạn được chấp thuận, đang khẩn trương xây dựng bản thân trở thành “nhà báo Đức gốc Việt, anh hùng dân chủ” đang bị đàn áp ngay trên nước Đức. Như vậy, nguyên do Lê Trung Khoa chống phá quê hương chỉ là để trục lợi cho bản thân và mục đích bỉ ổi đó đã bị dư luận vạch trần. Rồi đây, anh ta có thể sẽ qua mắt được cơ quan chức năng của nước Đức, nhưng với người Việt Nam, anh ta chỉ còn là người nối dài danh sách của mấy kẻ như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống mà thôi!


Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2020

PHẬN NƯỚC- PHẬN CỜ

2/ Cờ long tinh:

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sau khi bình định xong xứ viễn đông, người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương còn gọi là Đông Dương thuộc Pháp, gồm các vùng lãnh thổ: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An Nam), Nam kỳ (Cochinchine), Campuchia, Lào, và Quảng Châu Loan (nhượng địa của nhà Thanh). Hà Nội được đặt làm thủ phủ xứ Đông Pháp xa xôi. Riêng ba vùng lãnh thổ An Nam, Campuchia và Lào, được người Pháp cho duy trì chế độ quân chủ dù chỉ là về hình thức vì trên mỗi ông vua còn có một nhiếp chính quan người Pháp gọi là Khâm sứ quyết định mọi việc kể cả đặt ai ngồi trên cái ngai hoàng đế. Họ để cho mỗi vương triều được có một lá cờ làm biểu tượng riêng. Cụ thể hoàng triều An Nam kể từ đời vua Thành Thái (1889-1907) có “long tinh kỳ” (hai giải bên màu vàng, giải giữa màu đỏ), mang ý nghĩa trên đất hoàng triều này có dòng máu của người Lạc Việt và Quốc thiều là bản “Đăng đàn cung” (Không có lời ca). Thực sự“long tinh kỳ” chỉ được thượng lên tại hoàng thành Huế và vùng lãnh thổ Trung kỳ hoặc theo nhà vua mỗi khi xa giá, nên chỉ xuất hiện đôi lần ở Bắc kỳ, chưa từng được xuất hiện ở Nam kỳ. Vì thế “long tinh kỳ” không thể là biểu trưng cho một quốc gia Việt Nam thống nhất và độc lập.
3/ Cờ quẻ ly:

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2020

PHẬN NƯỚC- PHẬN CỜ

Nguyễn Văn Thịnh
Trong bối cảnh lịch sử khắc nghiệt đã qua, người Việt Nam không dễ chọn một lá cờ theo tâm nguyện của mình. Nhưng khi đất nước đã thống nhất độc lập rồi thì quốc kỳ không thể theo ý của một ai, cũng không thể đại diện riêng của phe này phái nọ. Nó được định đoạt bởi quyền lực của nhân dân thông qua hiến pháp. (NVT)
Người Việt xưa không có khái niệm “quốc kỳ”. Bà con ta quen gọi “cờ vua” –  biểu trưng cho một hoàng triều hoặc một vương triều và “cờ xí” – biểu trưng cho một đạo quân. Cờ và xí thường có ký tự bằng chữ Hán. Trong các dịp lễ hội còn được trang trí bằng những lá cờ vuông ngũ sắc có diềm tua và những giải phướn đủ màu.

Sau khi Pháp bình định xong Đông Dương, lá cờ tam tài ra đời từ thời cách mạng 1789 ngạo nghễ phủ khắp xứ Đông Pháp xa xôi. Sang thế kỷ XX mới thấy xuất hiện những lá cờ biểu trưng một đoàn thể, một chính thể, một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Để tìm hiểu xuất sứ và ý nghĩa của những lá cờ biểu trưng đáng nhớ xuất hiện trong lịch sử Việt Nam cận hiện đại, người viết sưu tra tư liệu, đọc hồi ký của nhiều nhân vật lịch sử, tham khảo ý kiến của hiếm hoi vị lão niên từng là chứng nhân qua các thời kỳ, giới thiệu với bạn đọc. Dù chưa thỏa ý nhưng chí ít cũng giúp bạn đọc hiểu được phần nào
1/ Cờ đỏ sao vàng:

Khởi thủy, lá “cờ đỏ sao vàng” (ngôi sao vàng năm cánh nằm chính giữa nền đỏ) xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) lúc ấy là xứ Cochinchine trực trị của Pháp. Dù bị dìm trong biển máu nhưng lá cờ thật sự là biểu tượng của truyền thống yêu nước Việt Nam, ý chí quật cường đấu tranh giành thống nhất non sông, độc lập quốc gia và chủ quyền dân tộc.
Theo Sơn Tùng thì tác giả của lá cờ là nhà cách mạng Nguyễn Hữu Tiến (5/3/1901 – 28/8/1941, quê Hà Nam), là một trong tám chiến sỹ bị giặc Pháp tử hình ở Ngã ba Giồng, Hóc Môn. Khi phác họa lá cờ tổ quốc, tác giả giải thích trong thơ:
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi, da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sỹ-nông-công-thương-binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.
Theo Lê Tú Lệ thì tác giả là nhà cách mạng Lê Quang Sô, quê Gò công, Mỹ Tho.
Lúc đầu, một số người cực đoan quyết liệt phản đối, tới mức đòi tử hình người “vẽ” ra lá “cờ đỏ có sao vàng năm cánh” vì theo họ, cờ cách mạng chỉ có thể là “cờ đỏ búa liềm” biểu trưng của phong trào cộng sản quốc tế! Nhưng rồi cũng qua. Việc xác minh những sự kiện lịch sử trong điều kiện hết sức khắc nghiệt thật vô cùng khó khăn vì sự việc phải giữ kín tuyệt đối mà chứng nhân phần lớn đã hy sinh trong chiến đấu hoặc theo quy luật nhân sinh và người còn lại thì khiêm nhường không muốn kể công mình. Lá “cờ đỏ sao vàng” theo cao trào cách mạng từ Nam ra Bắc, lại từ Bắc vào Nam. Vượt bao gian khó hy sinh, lá cờ tung bay trên khắp non sông Việt Nam từ địa đầu phía Bắc tới cực Nam tổ quốc kêu gọi những ai con Lạc, cháu Hồng hãy kề vai sát cánh cùng đứng lên giành độc lập quốc gia, chủ quyền dân tộc. Tại “Quốc dân hội nghị” họp ở Tân Trào chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đã đề xuất lấy “cờ đỏ sao vàng” và bài hát “Tiến quân ca” làm biểu trưng cho nước Việt Nam mới.
Cách mạng tháng Tám thành công. Sau non thế kỷ mất nước, lần đầu tiên người Việt Nam được hưởng quyền “phổ thông đầu phiếu” bầu ra cơ quan lập pháp quốc gia. Quốc hội của nước Việt Nam độc lập, thống nhất họp kỳ đầu tiên vào ngày 2/3/1946, quyết định lấy tên nước là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, lấy lá “cờ đỏ sao vàng” làm biểu tượng quốc gia và bài hát “Tiến quân ca” của Văn Cao làm quốc ca. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam kỳ khởi nghĩa”. Ngày 1/5/1946, lần đầu tiên trên trường quốc tế, phái đoàn Quốc hội của nước VNDCCH do Phó trưởng Ban Thường vụ Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm Cộng hòa Pháp quốc (từ 16/4 đến 23/5/1946) đã giương cao lá cờ đỏ sao vàng tại quảng trường La Nation – Paris (Palace de La Nation), trước sự chào đón nồng nhiệt của đông đảo bạn bè Pháp và bà con Việt kiều yêu nước (Cục văn thư và tư liệu nhà nước). Dưới ngọn cờ ấy toàn dân Việt Nam “thề đem xương máu hết lòng chiến đấu cho tương lai”, đã lập nên bao chiến công kỳ tích để có được một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, và độc lập. Năm 1954, lá cờ được phất phới tung bay trên chiến trường Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, đồng thời làm dấy lên cao trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên toàn thế giới.
Ngày 30/4/1975, trời Sài Gòn lại ngợp bóng cờ đỏ sao vàng, chứng kiến sự bất lực của đội quân viễn chinh hùng hậu nhất trong lịch sử loài người cùng với đội quân tay sai hàng triệu người thảm bại, trước sự kính phục của nhân dân yêu chuộng tự do công lý trên toàn thế giới.
Quốc hội khóa VI họp ngày 24/6/1976, quyết định đổi tên nước là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và đều nhất trí lấy lá “cờ đỏ sao vàng” làm biểu tượng quốc gia và bài hát “Tiến quân ca” của Văn Cao làm quốc ca.
Trong lịch sử Việt Nam, đó là lá cờ duy nhất biểu tượng cho một nước Việt Nam thống nhất và độc lập.
Trong lịch sử loài người có lá cờ nào biểu trưng cho lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất giành độc lập tự do, lại trải qua bão tố phong ba, thăng trầm mà oanh liệt vẻ vang như thế?
KỲ SAU: CỜ LONG TĨNH 

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2020

TỔ QUỐC MÌNH YÊU BIẾT MẤY EM ƠI!

TỔ QUỐC MÌNH YÊU BIẾT MẤY EM ƠI! Thơ: Nguyễn Biểu. Em nghe không hai tiếng gọi ĐỒNG BÀO Trên thế giới có nơi nào hơn thế? Đất nước mình trải qua bao giông bể Nghĩa ĐỒNG BÀO chẳng thể tách rời nhau.
Em biết không? Từ trong nỗi thương đau Những cuộc trường chinh nhuộm màu máu đỏ Khốc liệt, nguy nan muôn vàn gian khó Bắc - Trung - Nam vẫn gắn bó một lòng. Vết thương này ta hàn gắn chưa xong Bởi đâu đó ở trong lòng đất Mẹ Còn biết bao nhiêu những người lính trẻ Vẫn chưa về dù đã mấy mươi năm... Em biết không? Nơi ấy họ đang nằm Là khe suối xa xăm vùng biên ải Là ngọn núi là lòng sông, triền bãi Là cánh đồng là hải đảo xa khơi... Họ không về! Không về nữa em ơi! Để chúng ta mãi đời đời “mắc nợ” Để chúng ta mãi đời đời phải nhớ Vậy mà giờ em lại nỡ lãng quên??? Hỡi em gái! Người anh chẳng biết tên Hãy suy nghĩ và hãy nên hành động Vì Tổ Quốc là niềm tin, lẽ sống! Bởi chúng ta chung dòng giống Tiên Rồng. Giữa đại dịch em có biết hay không? Cả Dân tộc đang gồng mình “chiến đấu” Và Tổ Quốc Mẹ hiền yêu dấu Dang rộng vòng tay đón các em về. Tư cách nào em lớn tiếng trách chê? Khi Tổ Quốc đang bộn bề gian khó Đất Mỹ, trời Âu em tìm sang bên đó Cuộc sống phồn hoa em có nhớ quê không??? Xin hãy đừng lớn tiếng kể công Đừng đòi hỏi cho riêng mình như vậy! Hãy nhìn đi rồi em sẽ thấy Tổ Quốc mình yêu biết mấy em ơi! Mẹ Việt Nam chẳng bao giờ bỏ rơi Những đứa con ở mọi phương trời xa tít Những chuyến phi cơ vẫn vội vàng cho kịp Hạt gạo, gói mỳ, miếng thịt… vẫn nhường nhau. Nghĩ đi em! Nghĩ cho cả mai sau Hãy nghĩ đến màu vàng sao cờ đỏ Là Tổ Quốc thiêng liêng của em đó Nếu đã về xin đừng có trách chê! Tác giả:Bieu Nguyen Nghĩa Hợp, Tân Kỳ, Nghệ An,

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2020

ĐẤT NƯỚC MÌNH NỢ BÁC MỘT CHỮ TÂM

ĐẤT NƯỚC MÌNH NỢ BÁC MỘT CHỮ TÂM
(Kính tặng Phó thủ tướng Vũ Đức Đam)

Đất nước mình nợ Bác một chữ Tâm
Tiếng nói người dân trong lần đại dịch
Việc Bác làm đâu phải vì thành tích
Vì an nguy của trăm triệu đồng bào.
Nhìn Việt Nam cả Thế Giới tự hào
Sao nhỏ bé mà oai hùng đến thế
Họ hiểu rằng bao con người thế hệ
Thức trọn đêm chặn vi rút lan tràn.
Từ Dân phòng đến Bộ đội, Công An
Những chiến sĩ gồng mình nơi biển đảo
Những Bác sĩ oằn mình trong giông bão
Nhịn áo cơm để yên ấm dân lành.
Nơi bìa rừng mặc muỗi đốt hôi tanh
Nhường doanh trại cho dân tình điều trị
Ôi ! Tượng đài bao tâm hồn kì vĩ
Quyết liều mình không khác thủa chiến tranh.
Và một người vô bờ bến là anh
Tôi kính trọng xin gọi bằng từ Bác
Bao nhiêu đêm thức khuya đầu sợi bạc
Bởi đắn đo quá tải đến hao gầy.
Thật tự hào Phó thủ tướng mình đây
Ẩn phía sau dáng con người mảnh khảnh
Là nghị lực phi thường đầy kiêu hãnh
Dang rộng tay gánh đỡ triệu đồng bào.
Mong dân mình ý thức cảnh giác cao
Biết sàng lọc thông tin hùa theo địch
Bọn phản động thừa cơ này đột kích
Nước đục câu trục lợi kiếm suýt màu.
Cũng đừng ham vài đồng bạc làm giàu
Găm hàng hoá khi dân tình khốn khổ
Hộp khẩu trang bán gấp mười giá cũ
Tích mỳ tôm và bao thứ ngập đầu.
Đừng hoang mang, Bác vẫn lái con tàu
Vẫn còn thức vì dân mà quên ngủ
Đại dịch này coi như từng cơn lũ
Sớm trôi qua và ánh nắng quay về.
Sẽ không còn dịch bệnh dài lê thê
Tiếng trẻ thơ lại vui đùa khúc hát
Tiếng Thầy cô ươm mầm non xanh hạt
Thấy trong lòng nợ Bác Phó chữ tâm.
(Chưa biết tác giả)i

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2020

Đất nước ở trong tim


Đất nước mình bé nhỏ vậy thôi em
Nhưng làm được những điều phi thường lắm
Bởi hai tiếng nhân văn được cất vào sâu thẳm
Bởi vẫn giữ vẹn nguyên hai tiếng đồng bào.
Em thấy không? Trong nỗi nhọc nhằn, vất vả, gian lao
Khi dịch bệnh hiểm nguy đang ngày càng lan rộng
Cả đất nước mình cùng đồng hành ra trận
Trên dưới một lòng chống dịch thoát nguy.
Với người láng giềng đang lúc lâm nguy
Đất nước mình không ngại ngần tiếp tế
Dù mình còn nghèo nhưng mình không thể
Nhắm mắt làm ngơ khi ai đó cơ hàn.
Với đồng bào mình ở vùng dịch nguy nan
Chính phủ đón về cách ly trong doanh trại
Bộ đội vào rừng chịu nắng dầm sương dãi
Để họ nghỉ ngơi nơi đầy đủ chiếu giường.
Với chuyến du thuyền đang khóc giữa đại dương
Mình mở cửa đón họ vào bến cảng
Chẳng phải bởi vì mình không lo dịch nạn
Mà chỉ là vì mình không thể thờ ơ.
Thủ tướng phát lệnh rồi, em đã nghe rõ chưa
“Trong cuộc chiến này sẽ không có một ai bị để lại”
Chẳng có điều gì làm cho mình sợ hãi
Khi trong mỗi người nhân ái được gọi tên.
Từ mái trường này em sẽ lớn lên
Sẽ khắc trong tim bóng hình đất nước
Cô sẽ nối những nhịp cầu mơ ước
Để em vẽ hình Tổ quốc ở trong tim.
Nhớ nghe em, ta chẳng phải đi tìm
Một đất nước ở đâu xa để yêu hết cả
Đảng đã cho ta trái tim hồng rạng tỏa
Vang vọng trong lòng hai tiếng gọi Việt Nam!
Chu Ngọc Thanh

Bài viết mới nhất