THẤT BẠI trong khâu chuẩn bị là chuẩn bị cho một THẤT BẠI!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngụy 3 sọc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngụy 3 sọc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2024

Khởi tố, bắt tạm giam ông Trương Huy San và luật sư Trần Đình Triển

(ĐQT)-

Ông Trương Huy San (còn được biết đến là Osin Huy Đức) và luật sư Trần Đình Triển vừa bị khởi tố, bắt tạm giam.

Ngày 7/6, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an ra quyết định khởi tố vụ án "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" xảy ra tại Hà Nội và các tỉnh, thành phố.

Đồng thời, nhà chức trách ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam ông Trương Huy San. Bị can Trương Huy San bị điều tra về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Điều 331 Bộ luật Hình sự. 




Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2024

Điểm lại các cuộc đảo chính thời Việt Nam Cộng hòa

(ĐQT)- Những năm 1960 – 1965 là giai đoạn cực kỳ bất ổn của nền chính trị Việt Nam Cộng hòa, với hàng loạt vụ đảo chính do giới quân sự tiến hành. Tình hình chỉ ổn định hơn khi Nguyễn Văn Thiệu trở thành Quốc trưởng và Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng năm 1965.

Cuộc đảo chính năm 1960

Đảo chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1960 là cuộc đảo chính quân sự đầu tiên tại Việt Nam Cộng hòa, do Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông đứng đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bấy giờ là Ngô Đình Diệm. Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quần chúng. Sau khi cuộc đảo chính bị dập tắt, một số sĩ quan quân đội và chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam.

Cuộc đảo chính diễn ra trong bối cảnh chính quyền Việt Nam Cộng hòa sau 5 năm xây dựng dưới quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm đã dần vững mạnh. Các thế lực đối lập đều bị trấn áp mạnh và bị suy giảm ảnh hưởng. Nhóm quân sự Bình Xuyên bị tiêu diệt, các nhóm quân sự khác của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo; lực lượng vũ trang của các đảng phái Đại Việt, Quốc dân Đảng đều bị giải tán và sát nhập vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa.



Để đảm bảo vị thế quyền lực của mình, Ngô Đình Diệm chủ trương kềm chế các phe phái chính trị đối lập cũng như ảnh hưởng từ phía nước ngoài như Mỹ, Pháp. Điều này giúp ông có thể tập trung sức mạnh để đương đầu với đối thủ mà ông cho là nguy hiểm nhất: Cộng sản miền Nam, nhóm chính trị và quân sự tuy bề ngoài không hoạt động hoặc hoạt động rời rạc, nhưng thực tế chịu sự chỉ đạo thống nhất của Xứ ủy Nam Bộ. Nhất là khi Nghị quyết Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thứ 15 đã chỉ đạo Xứ ủy Nam Bộ chuyển hình thái từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang.

Tuy nhiên, quan điểm này của Ngô Đình Diệm không được những người đối lập tán đồng. Họ liên tục công kích chính sách độc tài chính trị cũng như những thất bại về quân sự, mà nổi bật nhất là Phong trào Đồng khởi tại Bến Tre và Trận tập kích Tua Hai tại Tây Ninh cuối tháng 1/1960, đều được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ.

Cuộc đảo chính được Trung tá Vương Văn Đông, một sĩ quan người miền Bắc từng tham gia chiến tranh chống Việt Minh, chỉ huy. Đông sau này được huấn luyện ở Kansas, Hoa Kỳ và được các cố vấn quân sự Mỹ đánh giá cao. Đông viện cớ chế độ của Ngô Đình Diệm chuyên quyền và can thiệp liên tục vào quân đội là cơ sở chính cho sự bất bình của mình. Ngô Đình Diệm đã bổ nhiệm những quan chức trung thành với mình hơn là những người có tài năng và khiến cho các quan chức cấp cao mâu thuẫn lẫn nhau để tránh khỏi bị họ đoàn kết chống lại mình. Nhiều năm sau cuộc đảo chính, Đông đã khẳng định rằng ông ta chỉ muốn Diệm cải thiện chế độ của mình.

Đại tá Nguyễn Chánh Thi, một chỉ huy của cuộc đảo chính khẳng định “Tuyệt nhiên không có sự nhúng tay của ngoại quốc, dù xa hay gần, dù trực tiếp hay gián tiếp, dù vật chất hay tinh thần. Tôi xin cam đoan rằng không một người ngoại kiều nào được biết đến cuộc đảo chính này trước khi tiếng súng nổ.” còn William Colby sau này thừa nhận có một số sĩ quan Mỹ đến sở chỉ huy quân dù gần dinh Độc Lập quan sát trận chiến để báo cáo tình hình với ông. Khi Ngô Đình Nhu biết được điều này, ông chỉ trích William Colby “Nước nào cũng chơi trò tình báo… nhưng không một nước nào kể cả chúng tôi có thể chấp nhận việc một nước khác nhúng mũi vào quyền hành và tiến trình chính trị của mình” rồi đưa ra bằng chứng về việc một viên sĩ quan Mỹ gặp phe chống đối tham gia bàn kế hoạch đảo chính quân sự. Colby phủ nhận sĩ quan đó không phải người của CIA nhưng do người sĩ quan bị đe dọa thủ tiêu nên ông đồng ý trục xuất người đó về nước. Một nhân vật dân sự khác là Hoàng Cơ Thụy tham gia vào cuộc binh biến ngày 11/11/1960 do cung cấp tin tức cho CIA cũng có nguy cơ bị bắt nên được CIA lén đưa ra nước ngoài.

Kế hoạch đảo chính đã được Trung tá Đông và các quan chức bất bình với chế độ Diệm, trong đó có Đại tá Nguyễn Chánh Thi, chuẩn bị trong một năm. Đông đã cấu kết được với một Trung đoàn Thiết giáp, một đơn vị Hải quân và ba Tiểu đoàn quân Nhảy dù. Phủ tổng thống đã gởi Nha An ninh quân đội (và Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô) chỉ thị phải gấp rút điều tra Đại tá tư lệnh Lữ đoàn dù Nguyễn Chánh Thi về “những hoạt động có hại cho quốc gia”. Lực lượng đảo chính quyết định tiến hành cuộc đảo chính sớm hơn một ngày.

Cuộc đảo chính nổ ra vào lúc 5 giờ sáng ngày 11/11. Lực lượng đảo chính chiếm đài phát thanh và phát Nhật lệnh.

Tuy nhiên kế hoạch đã được thực hiện không hiệu quả, quân nổi loạn đã không phong tỏa các con đường vào đô thành Sài Gòn. Ngô Đình Diệm sử dụng hệ thống phát sóng đặc biệt nằm trong dinh Độc Lập yêu cầu các tư lệnh Quân khu phải bình tĩnh và tự vệ cẩn mật để chờ lệnh của sĩ quan liên lạc Phủ Tổng thống. Đại tá Trần Thiện Khiêm quân khu 5 được lệnh phải cho đoàn Thiết giáp Mỹ Tho lấy một Chi đoàn lên ngay đậu tại Phú Lâm chờ lệnh. Đầu tiên, lực lượng đảo chính đã bao vây dinh Độc Lập nhưng Ngô Đình Diệm cử đại diện truyền đạt cho phe đảo chính lời hứa giải tán chính phủ và vợ chồng Ngô Đình Nhu sẽ phải ra đi. Phe đảo chính trì hoãn tấn công trong 36 tiếng đồng hồ vì tin rằng Diệm sẽ tuân thủ theo yêu sách của họ. Đông đã cố gắng gọi điện cho đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow để gây áp lực lên Diệm. Tuy nhiên, Durbrow dù chỉ trích Diệm vẫn giữ lập trường của chính phủ Mỹ ủng hộ Diệm, cho rằng “chúng tôi ủng hộ chính phủ này cho đến khi nó thất bại”. Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Đại tướng Lê Văn Tỵ, tỏ thái độ ủng hộ và đồng ý hợp tác với phe đảo chính. Ông yêu cầu phe đảo chính ngừng bắn để thương lượng với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Lúc 4 giờ 45 phút sáng ngày 12/11/1960, Đài phát thanh Sài Gòn đã truyền đi “Nhật lệnh 3 điểm” của Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ.

Lợi dụng thời gian trì hoãn này, Diệm đã xuống tầng hầm dinh Độc Lập và viết một bài diễn văn kêu gọi các tướng lãnh của Quân đội Việt Nam Cộng hòa thành lập một Chính phủ lâm thời và hứa hẹn phối hợp với Ủy ban cách mạng của phe đảo chính thành lập một Chính phủ liên hiệp để tránh đổ máu và trấn an dân chúng.

Khi các thỏa hiệp đang được phát trên các phương tiện truyền thông ngày 12/11, Đại tá Huỳnh Văn Cao chỉ huy Bộ binh và Thiết giáp thuộc Sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho cùng Đại tá Trần Thiện Khiêm và Trung tá Bùi Dzinh chỉ huy Bộ binh và Pháo binh thuộc Sư đoàn 21 đóng ở Sa Đéc đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao tranh sau đó chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống đường để xem cuộc giao tranh. Lực lượng trung thành đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.

Sau khi dinh Độc Lập bị bao vây, Ngô Đình Diệm đã thành công trong việc chặn cuộc đảo chính lại thông qua thương lượng như một cách “câu giờ” để lực lượng trung thành có đủ thời gian đưa quân vào Sài Gòn ứng cứu mình. Sau cuộc chiến là một cuộc đàn áp của Ngô Đình Diệm với những người chỉ trích và nhiều bộ trưởng của nội các bị bỏ tù.

Cuộc đảo chính năm 1963

Cuộc đảo chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1963 là cuộc đảo chính Quân sự lật đổ Chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm do các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa thực hiện với sự làm ngơ của Hoa Kỳ vào ngày 1/11/1963. Cuộc đảo chính đã giết chết anh em Tổng thống là Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu, Chính quyền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam sụp đổ, chuyển vai trò lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa sang Hội đồng quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu.

Nguyên nhân xảy ra cuộc đảo chính 1963 do các tướng lĩnh Việt nam Cộng hòa bất mãn trước cách cai trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, muốn thực hiện đảo chính để chấm dứt cuộc khủng hoảng Phật giáo. Cuộc đảo chính được Mỹ ủng hộ do chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm không thực hiện những thay đổi chính trị theo khuyến cáo của Mỹ dẫn đến mâu thuẫn với chính phủ Mỹ do đó Mỹ bật đèn xanh cho các tướng lĩnh đảo chính. Một lý do khác được quy kết nữa là vì chính phủ của ông chủ trương độc lập với người Mỹ, trong khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Từ tháng 7/1963 đã có những tin đồn về việc sắp xảy ra đảo chính. Các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Dương Văn Minh có ý định đảo chính để chấm dứt khủng hoảng, lật đổ Chính phủ bị nhiều người xem là độc tài, gia đình trị. Theo báo cáo của CIA, đồng thời có ít nhất mười nhóm âm mưu đảo chính cùng chung mục đích kể trên của các tướng tá trẻ. Chính các nhóm này gây áp lực khiến các tướng lĩnh cấp cao phải quyết định hành động để ổn định tình hình, ngăn ngừa xảy ra những cuộc đảo chính của các nhóm khác có thể đưa miền Nam vào khủng hoảng trầm trọng hơn.

Chuẩn bị cho cuộc đảo chính, các tướng lĩnh tổ chức đảo chính đưa một số đơn vị quân đội trung thành với Chính phủ Ngô Đình Diệm đi hành quân ở những vùng xa Sài Gòn để các đơn vị này không thể ứng cứu khi đảo chính xảy ra. Ngày 29/10, để vô hiệu hóa Lực lượng Đặc biệt (lực lượng thiện chiến và trung thành với chế độ), tướng Tôn Thất Đính với tư cách Tư lệnh Quân đoàn III (và cũng là Tổng trấn Sài Gòn – Gia Định) ra lệnh cho các đơn vị thuộc lực lượng này di chuyển ra khỏi Sài Gòn, truy quét cộng sản ở vùng Hố Bò, Củ Chi. Sáng ngày 31/10/1963, tướng Tôn Thất Đính hạ lệnh cấm trại toàn thể quân đoàn Vùng III Chiến thuật và cử Đại tá Nguyễn Hữu Có đem một đơn vị tới Bắc Mỹ Thuận tịch thu hết tất cả tàu bè để cản đường về thủ đô của bất cứ đơn vị nào của Quân đoàn IV và Vùng 4 Chiến thuật. Chiều 31/10/1963, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu Tư lệnh Sư đoàn 5 đã dẫn 2 Trung đoàn dưới quyền cùng 1 Tiểu đoàn Pháo binh và 1 Chi đoàn Thiết giáp mượn cớ đi hành quân ở Phước Tuy nhưng lại dừng chân ở ngã ba xa lộ Biên Hòa và QL15 đi Vũng Tàu.

Như vậy các tướng lãnh đã chặn ba nẻo chính có thể tiến quân về thủ đô: con đường từ Lục tỉnh về thì do Đại tá Nguyễn Hữu Có án ngữ tại Phú Lâm. Con đường miền Tây có Thiếu tướng Mai Hữu Xuân với lực lượng của Trung tâm Huấn luyện Quang Trung án ngữ. Con đường từ miền Bắc có Đại tá Vĩnh Lộc với Chiến đoàn Vạn Kiếp án ngữ.

Sáng ngày 1/11/1963, được lệnh của các tướng lĩnh chỉ huy đảo chính loại bỏ Hồ Tấn Quyền khỏi vai trò chỉ huy Binh chủng Hải quân, Thiếu tá Trương Ngọc Lực, Chỉ huy trưởng Vùng III Sông ngòi (dư luận đánh giá là một người hiếu sát) và Đại úy Nguyễn Kim Hương Giang, Chỉ huy trưởng Giang đoàn 24 Xung phong, kiêm Chỉ huy trưởng Đoàn Giang vận đã lừa Hồ Tấn Quyền ra Thủ Đức và hạ sát ông tại rừng cao su. Cũng trong sáng ngày 1/11 Trung tướng Trần Văn Đôn triệu tập các cấp chỉ huy của một các đơn vị quân đội đồn trú tại Sài Gòn và các vùng phụ cận mà ông nghi ngờ trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm về cầm chân ở Bộ Tổng tham mưu.

Lúc 1h30 trưa ngày 1/11/1963, điệp viên CIA Lucien Emile Conein vào bộ Tổng Tham mưu, mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Tòa Đại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc Việt Nam để hỗ trợ cho việc thực hiện đảo chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ sẽ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô Đình Diệm.

Lúc 12 giờ 10′, tại Dinh Gia Long, khi Tổng thống Ngô Đình Diệm được tin báo về cuộc đảo chính ông và Cố vấn Ngô Đình Nhu di chuyển xuống hầm bí mật đào dưới dinh Gia Long. Hầm này có phòng ngủ, phòng tắm và phòng khách cho Tổng thống và Cố vấn, và có địa đạo dẫn ra ngoài dinh. Tại đây ông ra lệnh cho các sĩ quan cận vệ liên lạc với các tướng Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính yêu cầu đến ứng cứu.

Vào 1 giờ 30 chiều ngày 1/11/1963, Mai Hữu Xuân chế ngự được đơn vị của Lực lượng Đặc biệt đóng tại Tân Sơn Nhất, đồng thời tướng Xuân cũng đưa tân binh quân dịch ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung về chặn các ngả đường tiến vào Sài Gòn. Trung tá Nguyễn Cao Kỳ nắm quyền Tư lệnh Không quân (Đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không quân đang bị giam tại Bộ Tổng tham mưu) cho phi cơ phóng pháo bay lượn trên không phận Sài Gòn để uy hiếp các lực lượng chống đảo chính. Thiếu tá Nguyễn Bá Liên (cháu của Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội), Tham mưu trưởng Lữ đoàn Thủy quân lục chiến ra lệnh cho 2 Tiểu đoàn dưới quyền vờ đi hành quân ở núi Thị Vải, Bà Rịa rồi bất ngờ chuyển hướng về Sài Gòn chiếm Tổng nha Cảnh sát, Bộ Nội vụ, Nha Truyền tin. Quân đảo chính do Đại tá Phạm Ngọc Thảo sau hai lần tấn công đã chiếm được Đài Phát thanh Sài Gòn. Sau khi chiếm Đài Phát thanh, quân đảo chính thông báo danh sách những tướng lĩnh tham gia đảo chính, hầu hết các tướng lĩnh đều có trong danh sách này ngoại trừ: Tư lệnh các Quân đoàn II, Quân đoàn I và Quân đoàn IV. Quân đảo chính cũng phát lời hiệu triệu đại ý gồm có lời tuyên bố lý do quân đội phải đứng lên lật đổ chế độ, lời kêu gọi ông Diệm đầu hàng, lời hứa sẵn sàng để cho ông Diệm xuất ngoại và lời hiệu triệu quốc dân đồng bào đoàn kết làm hậu thuẫn cho cuộc đảo chính.

Lúc đầu, ông Diệm vẫn hy vọng rằng cuối cùng cuộc phản loạn này cũng kết thúc như cuộc đảo chính bất thành ngày 11/11/1960. Ông đã chủ động gọi tướng Trần Văn Đôn. Tướng Đôn tuyên bố với Ngô Đình Diệm phe đảo chính hành động để “đáp lại nguyện vọng của nhân dân” vì các tướng lĩnh đã đề nghị Ngô Đình Diệm “cải cách chính sách theo nguyện vọng của nhân dân” nhiều lần nhưng không được đáp ứng. Ngô Đình Diệm đề nghị đối thoại với các tướng lĩnh để “tìm ra con đường củng cố lại chế độ”. tướng Đôn trả lời sẽ bàn bạc với các tướng lĩnh khác về đề nghị của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Vào lúc 4 giờ 30 chiều 1/11/1963 ông Diệm gọi điện thoại cho đại sứ Mỹ Cabot Lodge để thăm dò thái độ của người Mỹ về việc các tướng lĩnh dưới quyền tổ chức đảo chính. Ông đề nghị sẽ thực hiện các yêu cầu của người Mỹ. Cabot Lodge khuyên Ngô Đình Diệm từ chức và lưu vong như mong muốn của phe đảo chính để bảo toàn tính mạng. Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận thức rằng người Mỹ đã bật đèn xanh với âm mưu đảo chính của các tướng lĩnh.

Đến 6 giờ 30 cùng ngày, ông Diệm gọi lại tướng Đôn, nhưng được tướng Đôn thông báo sự khước từ của phe đảo chính. Họ đòi hỏi hai anh em ông Diệm phải rời khỏi nước. Ông Diệm đồng ý nhưng đặt một điều kiện: phe đảo chính phải chấp nhận cho ông các nghi thức danh dự ra đi của một tổng thống nhưng bị từ chối.

Qua đài phát thanh, khi biết các tướng Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính đều tham gia phe đảo chính, 8h tối ngày 1/11 Tổng thống Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu cùng 2 sĩ quan tùy viên (Đại úy Đỗ Thọ và Đại úy Bằng) trốn về nhà Mã Tuyên, Tổng bang trưởng của người Hoa và cũng là Thủ lĩnh Thanh niên Cộng hòa ở Chợ Lớn . Sáng sớm ngày 2/11, từ nhà Mã Tuyên hai ông sang dự lễ và cầu nguyện tại nhà thờ Cha Tam. Tại đây Tổng thống Diệm ra lệnh Đại úy tùy viên Đỗ Thọ lấy điện thoại Nhà xứ gọi về Tổng tham mưu thông báo là hiện Tổng thống đang ở Nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn.

Vào khoảng 7h sáng ngày 2/11, một phái đoàn gồm có 3 chiếc xe Jeep, hai chiếc Thiết giáp M113, 2 chiếc GMC chở đầy lính vũ trang và các nhân vật: tướng Mai Hữu Xuân, Đại tá Dương Ngọc Lắm, Đại tá Nguyễn Văn Quan, Đại úy Nguyễn Văn Nhung và Đại úy Dương Hiếu Nghĩa, Đại úy Phan Hòa Hiệp được đưa tới nhà thờ cha Tam để đón hai ông. Đại tá Lắm tuyên bố thừa lệnh Trung tướng Chủ tịch Hội đồng Quân Nhân Cách mạng ép hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu lên xe Thiết giáp M.113.

Trên đường về bộ Tổng tham mưu, Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát. Thi hài của hai ông được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa để khám nghiệm. Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, Giám đốc bệnh xá và cũng là người đã tiến hành vụ khám nghiệm thì hai ông Diệm, Nhu bị bắn từ sau gáy ra phía trước. Xác Tổng thống Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác Ngô Đình Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu.

Khoảng 10 giờ ngày 2/11, Đài phát thanh Sài Gòn loan một tin vắn tắt: “Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ Lớn, và đã tự tử!” Dư luận không tin là anh em ông Diệm tự sát. Vì ai cũng biết: Cố Tổng thống Diệm là một người ngoan đạo, mà đạo Thiên Chúa cấm tự sát.

Cuộc đảo chính đã khiến các cơ quan do Ngô Đình Diệm lập ra như Đảng Cần Lao, Sở Nghiên cứu Chính trị, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan Mật vụ Công an, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cộng hòa, Phụ nữ Liên đớì, các xóm Đạo võ trang… tất cả đều tê liệt rồi tan rã không một phản ứng. Cả cấu trúc chính trị mà hộ Ngô xây dựng trong 9 năm đã sụp đổ trong 24 tiếng đồng hồ.

Chuỗi các cuộc đảo chính năm 1964 – 1965

Do tình trạng bất ổn sau cuộc đảo chính 1963, trong những năm 1964 – 1965 chính trường Việt Nam Cộng Hòa đã nhiều lần chao đảo với trên dưới 5 cuộc đảo chính, mà sự kiện mở màn là cuộc chỉnh lý đầu năm 1964.

Cuộc chỉnh lý năm 1964 ở Việt Nam Cộng Hòa là một cuộc đảo chính xảy ra vào ngày 30/1/1964 do tướng Nguyễn Khánh lãnh đạo nhằmloại bỏ vai trò lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa của Hội đồng quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu. Cuộc đảo chính này diễn ra chỉ chưa đầy 3 tháng sau khi Hội đồng quân sự của Minh lên nắm quyền sau khi đã tiến hành một cuộc đảo chính đẫm máu chống lại tổng thống Ngô Đình Diệm. So với các lần trước đó, cuộc đảo chính lần này ít đổ máu nhất và chỉ diễn ra trong vòng vài tiếng đồng hồ.

Thời trẻ, Nguyễn Khánh, một người được Pháp đào tạo, gia nhập Việt Minh nhưng sau đó ông từ bỏ Việt Minh để phục vụ cho Quốc gia Việt Nam. Sau khi Việt Nam bị chia cắt, Nguyễn Khánh ủng hộ Ngô Đình Diệm. Nguyễn Khánh đã lên đến chức phó Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhưng sự trung thành của ông bị nghi vấn.

Năm 1960, một âm mưu đảo chính bởi đơn vị lính dù, ông đã thương lượng với lực lượng đảo chính với thời gian đủ để các lực lượng trung thành từ các tỉnh đến đàn áp quân đảo chính. Những chỉ trích về Nguyễn Khánh cho rằng ông đợi xem phe nào sẽ giành thế thượng phong. Ông ta đã tham gia với vai trò nhỏ vào cuộc đảo chính năm 1963 lật đổ Diệm. Với mong muốn ban thưởng cho Khánh nhiều hơn, Hội đồng quân sự đã phong ông ta làm chỉ huy Quân đoàn 1 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đóng ở Huế, đủ xa đô thành Sài Gòn vì nghi ngờ tính trung thành của ông. Tuy nhiên Hội đồng quân sự này đã không thể kiểm soát Nam Việt Nam sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm.

Nguyễn Khánh bất bình với những gì mình bị đối xử đã bàn mưu tính kế với tướng Trần Thiện Khiêm, lúc đó đang là chỉ huy khu vực Sài Gòn. Khiêm cũng là người cảm thấy rằng đóng góp của mình vào vụ đảo chính Ngô Đình Diệm đã bị đánh giá thấp. Hai người đã bí mật gặp nhau ở Sài Gòn hay ở Sở chỉ huy của Khánh ở Huế đầu tháng 1 và dự tính thực hiện cuộc đảo chính vào lúc 4h ngày 30/1.

Theo kế hoạch đã được hai bên thống nhất, lực lượng của Khiêm ở Sài Gòn sẽ bao vây nhà của các thành viên Hội đồng quân sự đang ngủ trong khi Khánh và đơn vị lính dù sẽ chiếm Sở chỉ huy bộ tổng tham mưu gần Căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Ngày 28/1, Khánh mặc thường phục bay từ Huế vào Sài Gòn trên một chuyến bay thương mại. Khánh che giấu âm mưu của mình bằng cách đi chung với một viên cố vấn người Mỹ là Đại tá Jasper Wilson và nói với viên cố vấn rằng ông ta vào Sài Gòn theo một cuộc hẹn với nha sỹ. Khánh ở nhà một người bạn và chờ đợi cuộc đảo chính. Đến gần giờ hẹn, Khánh mặc quân phục quân nhảy dù và đến Sở chỉ huy và thấy Sở này vắng tanh, chỉ còn vài lính gác. Khi Khánh gọi điện cho Khiêm mới được biết Khiêm ngủ quên do quên cài đồng hồ báo thức. Dù thế, trước khi trời sáng, Khánh đã chiếm được chính quyền mà không cần bất kỳ phát súng nào. Trong buổi phát thanh trên đài vào buổi sáng, Khánh cho rằng ông ta tiến hành đảo chính là vì Hội đồng quân sự bất tài không có tiến triển nào trong việc chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Hoa Kỳ đã không nắm được âm mưu đảo chính này dù Khánh trước đó đã nói với một điệp viên của CIA là Lucien Conein (người làm đầu mối liên lạc giữa Tòa đại sứ Mỹ và các tướng lĩnh trong cuộc đảo chính lật đổ Diệm) tháng 12/1963 rằng ông ta đang dự định tiến hành đảo chính; nó đã được lưu cùng với nhiều hồ sơ về tin đồn chính trị và bị quên đi. Sau cuộc đảo chính, Khánh được nhiều người Mỹ ủng hộ và xem như là một hy vọng mới của Việt Nam Cộng hòa.

Vào lúc này, tổng thống Pháp Charles de Gaulle đang dự định công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và muốn Đông Nam Á trung lập như một phần của chương trình nghị sự của mình. Khánh đã tận dụng điều này để tiến hành trả thù đối với các tướng Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim, thành viên của Hội đồng quân sự. Khánh ra lệnh bắt giữ cả hai với cáo buộc họ là một phần của mưu đồ tập trung của Pháp. Khánh đã cho rằng họ đã phục vụ cho Quân đội thực dân Pháp. Khánh đã không thể chứng minh được cáo buộc của mình chống lại các tướng này trước tòa án binh nơi các cáo buộc đã bị bác bỏ và hai tướng này chỉ bị khiển trách là “đạo đức yếu”. Khánh bị buộc phải bổ nhiệm Đôn và Kim chức cố vấn nhưng lại để các quân khu thuộc các sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, những người đã không hài lòng với Khánh. Khánh cũng cho xử bắn Nguyễn Văn Nhung. Nhung nổi tiếng vì là người đã bắn chết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu trong cuộc đảo chính năm 1963. Nhung trước đó đã trở thành một biểu tượng của việc loại bỏ Diệm và việc hành quyết Nhung khiến người ta lo rằng đây là dấu hiệu của việc quay trở lại các chính sách và các phần tử trung thành của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Điều này đã gây náo động ở Sài Gòn, trong đó nổi bật là giới Phật tử và sư sãi, những người sợ các chính sách chống lại Phật giáo sẽ được áp dụng trở lại sau chỉnh lý 1964.

Tới 19/12/1964, ở miền Nam Việt Nam lại đảo chính thêm lần nữa do Thiếu tướng Nguyễn Khánh và một nhóm tướng lĩnh do Thiếu tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ và Thiếu tướng lục quân Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy.. Cuộc đảo chính là một phần của sự bất ổn chính trị tiếp tục nổ ra sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại trong cuộc đảo chính tháng 11/1963. Cuộc đảo chính vào ngày này được thiết kế bởi một nhóm các sĩ quan quân đội trẻ, những người đã chán ngấy với những gì họ tin là một chính phủ không hiệu quả của nhóm tướng lĩnh lớn tuổi thuộc Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Khánh và Hội đồng Quân lực mới được thành lập, gồm các vị tướng đã tham gia vào cuộc đảo chính, đã khôi phục lại quyền kiểm soát dân sự vào ngày 07/01/1965 với một chính phủ do Trần Văn Hương dẫn dắt.

Hương tỏ ra không thể thành lập được một chính phủ hữu hiệu và Hội đồng Quân lực đã tiến hành đảo chính lật đổ ông vào ngày 27, đồng thời đưa tướng Khánh lên nắm quyền.

Tuy nhiên, Khánh cũng đã lại bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính khác vào ngày 18/02/1965 do Kỳ và Thiệu lãnh đạo. Khánh sau đó đã sang Hoa Kỳ định cư tại Palm Beach, Florida.

Tới 12/06/1965, một cuộc đảo chính nữa lại nổ ra, khi Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lại lật đổ chính phủ do Phan Huy Quát đứng đầu. Thiệu thành Quốc trưởng còn Kỳ làm Thủ tướng.

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2024

CUỘC TRUY KÍCH THẦN TỐC TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7

(ĐQT)-
CUỘC TRUY KÍCH THẦN TỐC TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7
Trong lịch sử cuộc kháng chiến của Dân tộc ta chưa có một cuộc rút chạy nào của địch lại thảm bại như cuộc rút chạy của Quân đoàn 2 địch trên đường 7 ( tháng 3/1975 ) . Cả một Quân đoàn với hàng vạn sỹ quan và binh lính cùng vài ngàn xe các loại , cùng rất nhiều phương tiện chiến tranh chỉ trong vòng một tuần đã gần như bị xoá sổ . Chiến thắng này đã góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của cả nước , giải phóng hoàn toàn Miền Nam , thống nhất đất nước . Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của Trần Tiến Hoạt - Sư đoàn 320 về trận truy kích tiêu diệt Quân đoàn 2 địch tháo chạy trên đường 7 - tháng 3/1975.

CUỘC TRUY KÍCH THẦN TỐC TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7

                                       




Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ và đặc biệt sau khi Sư đoàn 23 , lực lượng mạnh nhất của địch ở Quân khu 2 thất bại thảm hại sau khi tổ chức tái chiếm Buôn Ma Thuột . Ngày 14/3/1975 , Tổng thống Việt Nam cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu không còn cách nào khác phải ra lệnh rút quân khỏi Cao Nguyên . Để đảm bảo bí mật , bất ngờ và an toàn cho cuộc rút chạy ! Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 địch quyết định chọn đường số 7 , một con đường đã hư hỏng nặng và bỏ hoang từ lâu để rút chạy . Để đảm bảo cho cuộc rút lui an toàn, hữu hiệu, Bộ tư lệnh quân đoàn 2 địch đã điều liên đoàn 7 biệt động quân đang trấn giữ Tây Bắc thị xã Kon Tum "ưu tiên" cho rút trước về án ngữ “đoạn đường nguy hiểm nhất” từ Đông thị xã Cheo Reo đến đèo Tu Na. Hai liên đoàn biệt động quân số 6 và 23 đang chốt giữ Thanh An, Thanh Bình (đường 19 Tây) tăng cường cho lữ đoàn 2 kỵ binh bảo vệ tuyến đường từ ngã ba Mỹ Thạch đến quận lỵ Sơn Hòa, yểm trợ cho công binh mở đường bắc cầu qua sông Ba. Lực lượng địa phương quân của hai tỉnh Phú Bốn, Phú Yên cũng được huy động tối đa vào công việc “phối trí bảo vệ lộ trình 7”.
Cuộc rút lui chiến lược lớn nhất của quân ngụy Sài Gòn bắt đầu. Suốt đêm 14 rạng ngày 15-3, sư đoàn 6 không quân liên tục chở quân và gia đinh (gồm cả người và đồ đạc) về Nha Trang. Trên đường phố thị xã Kon Tum và Plei Ku xe nhà binh chạy hỗn loạn. Hàng loạt đồn bốt , công sở bỗng bốc cháy ngùn ngụt sáng rực cả một vùng. Dân chúng đã biết cuộc “bỏ của chạy lấy người” của quân đoàn 2, cũng vội vã hè nhau chạy theo. Đường 14 Nam thị xã Pleo Ku đến ngã ba Mỹ Thạch (đầu đoạn đường 7) bỗng chật ních người và xe cộ các loại.
Trong những giờ phút đầy biến động đó, những tin tức khác thường ở hai thị xã Kon Tum và Plei Ku đều được đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh tại Mặt trận Tây Nguyên và Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên theo dõi chặt chẽ. Tối 15-3, đại diện Bộ Tổng Tư lệnh gọi điện thông báo cho Bộ Tư lệnh chiến dịch biết có hiện tượng địch rút bỏ Kon Tum , Plei Ku và chỉ thị khẩn trương chuẩn bị mọi mặt ngăn chặn và truy kích cuộc rút chạy này . 20h ngày 16/3 , Bộ Tổng tư lệnh thông báo chính thức cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên : Địch đã rút chạy theo đường 7 , tổ chức truy kích ngay !
Căn cứ thực tế tình hình phát triển chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Sư đoàn 320 đứng chân ở khu vực Thuần Mẫn được tăng cường một tiểu đoàn thiết giáp, một cụm pháo binh chiến dịch nhanh chóng chặn địch ở Đông Nam Cheo Reo, tiêu diệt quân đoàn 2 rút chạy . 21 giờ ngày 16-3, cả Sư đoàn 320 lao vào cuộc truy kích thần tốc kiên quyết không cho địch chạy thoát.
Cho đến bây giờ, mỗi khi nhắc lại cuộc chiến đấu hào hùng đó, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 vẫn chưa lý giải được cặn kẽ tại sao lúc đó với một đội hình rất phân tán: Trung đoàn 48 (thiếu Tiểu đoàn 3) đang truy quét địch ở Cẩm Ga - Thuần Mẫn; Trung đoàn 64 (thiếu Tiểu đoàn 9 đang chốt cắt đường 7B ở Tây thị xã Cheo Reo 10 km) đang đánh địch ở Đạt Lý, Phước An; Trung đoàn 9 đánh địch ở Kênh Săn (Phú Nhơn), hầu hết cách thị xã Cheo Reo từ 50 đến 130km mà họ lại có thế cơ động (bộ phận gần: 1 đêm, bộ phận xa: 1 ngày 1 đêm) đến địa điểm chiến đấu (đúng thời gian quy định, lập lá chắn thép khóa chặt bọn địch trong thung lũng Cheo Reo để tiêu diệt. Chỉ biết rằng, sau khi nhận lệnh truy kích địch trên đường 7, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 không còn thời gian để ngồi mà tính toán nữa. Tất cả phải hành động, hành dộng thật khẩn trương, kiên quyết thì mới có thể giành được thắng lợi. Nếu để địch chạy thoát về đồng bằng là có tội với Tổ quốc, với nhân dân, với bao chiến sĩ đã đổ máu hy sinh trên chiến trường này.
Cuộc truy kích thần tốc trước hết diễn ra ở Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64) – những người có công đầu trong việc chốt chặn tập đoàn quân địch rút chạy. 19 giờ tối 16-3, sau khi nhận được lệnh của Sư đoàn trương Kim Tuấn: “Bằng bất cứ giá nào sáng ngày 17-3, tiểu đoàn phải có mặt ở chân đèo Tu Na để chặn địch”, cả tiểu đoàn lập tức lao vào cuộc chạy đua với quân địch. Mặc đêm tối, đường xa, dốc đá tai mèo dựng đứng, bộ đội vẫn kiên trì - động viên nhau khẩn trương vận động. Nhiều đoạn rừng rậm, khe sâu bộ đội phải dùng nứa khô, dép cao su làm đuốc soi dường để vượt qua. Địch rút chạy bằng sức 1 mạnh cơ giới. Ta đuổi địch bằng “đôi chân vạn dặm”. Tới trưa ngày 17-3, Đại đội 11 (Tiểu đoàn 9) đã đến vị trí quy định chuẩn bị nổ phát súng đầu tiên trong cuộc truy kích dịch của Sư đoàn.
Cũng trong đêm ngày 16 và ngày 17-3, cơ quan hậu cần chiến dịch và Sư đoàn 320 đã huy động hơn 100 xe ô tô cấp tốc chở Trung đoàn 64 và một số đơn vị trực thuộc đang làm nhiệm vụ ở hướng Đạt Lý, Buôn Hồ về ngã ba Thuần Mẫn . Thiếu ô tô, bộ đội chạy bộ. Xe chạy hết tốc lực. Đổ quân xuống nơi quy định, xe lập tức quay lại đón bộ phận khác đang chạy bộ. Trên hướng Bắc, Trung đoàn 9 sau khi chiếm quận lỵ Phú Nhơn đã nhanh chóng hình thành mũi tiên công phía Bắc xuống thị xã Cheo Reo. Trung đoàn 48 đã chủ động, tích cực đưa Tiểu đoàn 2 theo đường 7B áp sát phía Tây Cheo Reo...
Sáng ngày 17-3, một số xe địch chạy lọt về Củng Sơn nhưng đại bộ phận tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 vẫn chưa chạy thoát. Trên đường 7 hàng nghìn xe quân sự của địch nối đuôi nhau ùn ùn đổ về thị xã Cheo Reo. Chúng chạy hàng tư, hàng năm lấn ra cả hai bên bìa rừng. Trên trời máy hay hộ tống trút bom, bắn rốc két, ngăn chặn phía sau, dọn đường phía trước và hai bên.
Đoàn xe địch qua khỏi thị xã Cheo Reo 4km gặp trận địa phục kích đầu tiên của Tiếu đoàn 9 (Trung đoàn 64), cả đoàn xe nhào ra hai bên đường, chạy vào rừng. Đến chiều ngày 17-3, “cánh cửa thép” phía Đông Nam thung lũng Cheo Reo đã được khóa chặt. Lực lượng cơ bản của tập đoàn rút chạy đã bị nhốt chặt như cá nằm trong giỏ.
“Thị xã Cheo Reo, người và xe các loại chật ních không có chỗ chen chân. Nạn cướp giật hoành hành. Không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Mờ sáng ngày 18, địch củng cố lại đội hình, dùng hai thiết đoàn xe tăng mở đường chạy về Củng Sơn. Tiểu đoàn 9 ngoan cường, nổ súng dữ dội vào đoàn xe địch. Xe tăng, xe bọc thép liều chết mở hết tốc độ lao qua cầu Ea Nu. cầu sập. Xe và lính rơi xuống sông. Đường tắc nghẽn, địch bỏ xe tản vào rừng, lội sang sông Ba. Lúc này lực lượng lớn của Sư đoàn 320 đuổi kịp đánh thốc tới. Hàng trăm xe quân sự địch cháy nằm ngổn ngang hai bên đường và bãi sông”. Trong trận đánh táo bạo, quyết liệt này, Tiểu đội trưởng Nguyễn Vi Hợi, Đại đội 9 (Trung đoàn 64) nổi lên như một ngôi sao sáng chói. Qua hai ngày chiến đấu không biết mệt mỏi, một mình anh đã bắn cháy 12 xe bọc thép, diệt 20 tên, cùng đồng đội bắt sống 120 tên khác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Cùng trong ngày 18-3, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 đã cắt đứt đoạn đường từ Phú Thiện đi Cheo Reo, vây diệt 1 tiểu đoàn bảo an ở Cầu Cháy.
Thấy quân lính bị đánh quyết liệt cả bốn mặt, bọn chỉ huy địch đã cho 4 phi đội A37 và T28 oanh tạc bảo vệ đội hình. Nhưng không quân ngụy đã cuống cuồng ném bom vào liên đoàn 7 biệt động quân, làm chết và bị thương gần một tiểu đoàn, phá hủy một số xe quấn sự.
Cuộc truy kích thần tốc quân đoàn 2 ngụy của các Chiến sĩ Sư đoàn 320 mới bước sang ngày thứ hai đã thu được thắng lợi giòn giã và làm cho bọn địch hết sức nguyố. Đến nỗi tên chuẩn tướng Pham Duy Tất chỉ huy cuộc hành quân rút chạy đã phải kêu lên: “Tổn thất quá nặng nề gần như tan rã”|.
8 giờ ngày 18-3, để tạo thế tiêu diệt toàn hộ quân địch rút chạy, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 nhanh chóng đánh chiếm thị xã Cheo Reo làm bàn đạp.
Chấp hành triệt để chỉ thị trên. 11 giờ ngày 18-3, Sư đoàn cho ba trận địa pháo cơ giới nhất loạt bắn phá các mục tiêu quan trọng trong thị xã. 16 giờ, từ hai hướng, Trung đoàn 48 và một bộ phận của Trung đoàn 64 mở các đợt tiến công vào sân bay, tòa hành chính, khu cố vấn Mỹ, tiểu khu Phú Bổn, trại lính Ngô Quyền, đài phát thanh... Khoảng 24 giờ, thị xà Cheo Reo, tỉnh lỵ Phú Bổn hoàn toàn giải phóng. Ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và hầu hết phương tiện chiến tranh của quân đoàn 2 và một số đơn vị địch.
Trong cơn nguy khốn, Phạm Văn Phú phải ra lệnh cho lính bỏ vũ khí, khí tài quân dụng nặng đi vòng rừng chạy khỏi Cheo Reo. Bọn lính còn lại phần lớn ra hàng, phần còn lại lột hết quần áo lính, mặc dân sự và bắt dân chạy trốn theo để làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhưng một lần nữa với truyền thông “giúp dân đánh giặc” với sự thông minh, khôn khéo, bộ đội Sư đoàn 320 đã chia địch ra vây bắt, thanh lọc, bảo vệ an toàn cho nhân dân, đồng thời tuyên truyền kêu gọi nhân dân không chạy theo địch nhanh chóng trở về quê quán làm ăn.
Phát huy thắng lợi đã giành được, chỉ huy Sư đoàn 320 cho Trung đoàn 64 được tăng cường 1 tiểu đoàn thiết giáp truy đuổi lực lượng còn lại trên đoạn đương Phú Túc, Củng Sơn.
Với khí thế chiến thắng và quyết tâm không để địch chạy thoát về đồng bằng, ngày 20-3, các chiến sĩ Trung đoàn 64 và các đơn vị tăng cường đã đuổi kịp lực lượng địch chạy trước và tổ chức bao vây ngay. 17 giờ ngày 21-3, ta hoàn toàn làm chủ quận lỵ Phú Túc. 10 giờ ngày 22-3, ta làm chủ Ga Pui. Ngày 23-3, Trung đoàn 64 tiến sát quận lỵ Củng Sơn điểm co cụm cuối cùng của 6.000 tàn binh có 40 xe tăng, xe thiết giáp che chở. Ngày 24-3, được 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Yên phối hợp, Trung đoàn 64 và lực lượng thiết giáp tăng cường đã mở đợt tiến công quyết liệt, liên tục chia cắt tiêu diệt từng mảng quân địch. Đến 16 giờ, trước sức tiến công dũng mãnh của ta, đội quân ô hợp không chịu nổi phá chạy tán loạn. Đến 18 giờ cùng ngày, quận lỵ Củng Sơn hoàn toàn được giải phóng.
Thế là, sau một tuần truy kích thần tổc (17 - 24.3), Sư đoàn 320 và các lực lượng tăng cường của trên đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Tư lệnh chiến dịch, vượt qua mọi khó khăn gian khổ về không gian, thời gian, tiêu diệt gọn tập đoàn quân của quân đoàn 2 rút chạy, bao gồm 4 liên đoàn biệt động quân (6, 7, 23, 25), trung đoàn xe thiết giáp (3, 19, 21), đại bộ phận Sư đoàn 6 không quân và 1 tiểu đoàn quân cộng hòa, bắt gần 1 vạn tên, thu và phá hủy 1.400 xe các loại (có 90 xe tăng, 34 xe M113), giải phóng hàng chục vạn dân.
Thắng lợi của cuộc truy kích thần tốc trên đường 7 không chỉ nói lên sự trưởng thành vượt bậc về tinh thần đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể; ý chí kiên cường, táo bạo, nắm bắt thời cơ nhạy bén và sử dụng sức mạnh thời cơ tới mức độ hoàn hảo, mà còn chứng tỏ khả năng biết vận dụng sáng tạo nghệ thuật tác chiến chiến dịch, nổi bật nhất là công tác trinh sát bám địch, công tác chỉ huy hiệp đồng tác chiến trong vận động truy kích và phục kích chốt chặn quân địch của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 nói riêng và Binh đoàn Tây Nguyên nói chung.
Thắng lợi to lớn toàn diện trên đường 7 đã đánh bại hoàn toàn âm mưu về đồng bằng co cụm để giữ vùng duyên hải đông dân và trù phú của Mỹ - ngụy. Cùng với chiến thắng Buôn Ma Thuột, Phước An, chiến thắng Đường 7 - Cheo Reo trong Chiến dịch Tây Nguyên đã góp phần mở ra thời cơ hết sức thuận lợi để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta bước vào cuộc Tổng tiến công chiến lược mở Chiến dịch Trị Thiên - Huế, Chiến dịch Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phỏng hoàn toàn miền Nam thông nhất Tố quốc.

Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2024

Cờ vàng và cái quần xà lỏn (Bài của xích lô việt)

(ĐQT)-

Xichloviet

Có vẻ như quần  tà lỏn và cờ vàng là hai vật không có gì liên quan đến nhau. Thế nhưng đối với các anh cờ vàng cực đoan hùng hổ chống cộng trường kỳ  nó lại là những vật lên quan rất  mật thiết. Nhưng ta phải  nghe họ  tâm sự thì mới biết nó liên quan ra làm sao.

Mọi người trong chúng ta, ai đã qua tuổi học trò,  cũng từng biết tới nhà văn Thanh Tịnh với bài văn giáo khoa nổi tiếng :” Ngày tựu trường”. Đọc bài này mỗi người đều  có cảm xúc khác nhau, vì ai cũng có ký ức riêng về ngày tựu trường của mình. Và ai trong chúng ta có lẽ cũng đã hơn một lần từng đọc thơ của  Thế Lữ có tác phẩm “Hổ nhớ rừng “ nổi tiếng,  diễn tả tâm sự một con hổ bị cầm tù.

Có lẽ ảnh hưởng bởi cách hành văn của Thanh Tịnh , có lẽ trong một phút ngẫu hứng cảm thấy ta như hổ nhớ rừng, với cảm xúc rất riêng, một anh  cờ vàng đã ôn lại ký ức của mình bằng bài viết mang hơi hám của Thanh Tịnh và Thế Lữ như sau :

Hằng năm, cứ vào đầu hè, phượng ngoài đường nở nhiều và trên cao có những đám mây bàng bạc,  lòng ta lại  trào dâng ký ức đắng cay của cái ngày phải tháo chạy tuột quần.

to-lich-30-4-1975

Ta không thể nào quên được cái cảm giác run sợ ấy xuất hiện trong ta làm cái quần ta ướt sũng, cái hiện tượng này  chỉ xảy ra khi ta còn được mẹ ẵm trên tay.

Ký ức này ta  chưa một  lần ghi lên giấy vì hồi ấy ta  không dám ghi,  và ngày nay ta không nhớ hết.

Nhưng mỗi độ hè về lại gợi cho ta nỗi niềm không tả xiết, nó cắn xé lòng ta,  nó trào dâng niềm căm hận và nó bắt ta phải bật thành lời.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy hoang mang và lo sợ, tiếng súng cộng quân nổ khắp nơi,  lòng ta  nôn nao kinh hãi khiến ta đi đến  quyết định phải tuột quần, quyết định  lịch sử của đời mình.

image001

Tuột quần là vứt  bỏ quân phục, là đào ngũ, là hèn, là nhục, thế nhưng điều đó có sá chi, có gì  quan trọng cho bằng bảo toàn mấy chục kí lô thịt mà bố mẹ ta dầy công  tạo dựng nuôi dưỡng mấy chục năm qua.

Tuột quần để Việt cộng chẳng nhận ra ta, chẳng biết ai là dân là lính, thật may cho ta vẫn còn tà lỏn trên người. Thế nên ta vẫn giữ hoài quần tà lỏn, nếu không có nó ta chẳng khác đười ươi.

Đi trong cái nóng mùa hè oi ả nhưng ta vẫn toát mồ hôi,   Ta lạnh run lên vì khiếp sợ. Cộng quân truy đuổi phía sau còn phía trước ta là đoàn quân tan rã đang cướp bóc mọi thứ trên đường  tháo chạy. Ta lo sợ VC một phần nhưng cũng  lo sợ không kém , rằng cái tà lỏn cỏn con trên người ta chẳng biết có  bảo toàn được hay không, ai biết được trên đường tháo chạy có những rủi ro gì.

Con đường quốc lộ thênh thang giờ đây nhỏ hẹp vì quân phục quân trang vứt ngổn ngang đầy đường. Con đường này ta đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên ta thấy lạ. Cảnh vật xung quanh ta  thay đổi quá , chính vì chính lòng ta đang có sự thay đổi lớn : Hôm nay ta tháo chạy tuột quần.

1

 

Sài gòn mênh mông, ta lạc lõng , tìm hoài mà chẳng thấy chốn dung thân.

Bạn bè chiến hữu đâu chẳng thấy, chắc chẳng hơn ta:  cũng tồng ngồng.

Địa chỉ cuối cùng chiến hữu ta hội ngộ là trại cải tạo. Ngày ba bữa cơm hẩm trộn  bo bo đêm nằm co ro mà  gãi háng .

Ký ức năm xưa tràn về ngao ngán, tiếc  những tháng ngày ăn cơm Mỹ nhởn nhơ vui.

Thế nên ta :

Gặm một nỗi căm hờn quân cộng sản,

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua.

Khinh lũ cộng kia ngạo mạn ngẩn ngơ,

Giương mắt bé coi khinh cường quốc  Mỹ.

Nay sa cơ bị nhục nhằn tù hãm,

Thôi hết rồi những năm tháng ăn chơi.

Nay ngang hàng với bọn lính dở hơi,

Phải tuân lệnh cúi đầu mà  cuốc đất.

 

Ôi nhục nhã biết bao nhiêu, đội quân hùng mạnh.

Bỗng chốc tự  tan hàng chứ có phải cộng sản thắng ta đâu.

Ta kiểm soát bầu trời vùng biển,

Một con chuột chạy qua ta đều phát hiện,

Nhưng  ai ngờ cộng sản bỏ túi  được  cả xe tăng.

 

Chúng mang vào thả khắp tây nguyên, 

Chúng bỏ túi được cả pháo binh, xe vận tải.

Nửa triệu quân BU còn phải cuốn cờ tháo chạy,

Thì sá gì ta:  ô hợp đám quân tàn.

Nhờ chúa hiển linh trừng phạt bọn vô thần, 

Nên bọn cộng kia phải cúi đầu run sợ,

Chúng phải  thả ta về vì chúa  chở che ta.

Để ta tươi cười  vui hát khúc hát ô ,

Và đoàn tụ Bu ta nơi  đất  Mỹ.

Nay ta  hưởng eo phe nhưng vẫn có đủ cà phê,  chơi đĩ,

Vẫn còn gân còn đủ sức  biểu tình.

Tuy  không còn những tháng ngày hoàng kim cũ,

Nhưng đời cũng còn thấy màu xanh.

Nhưng:

CS nó ranh ma,

Ta sang đây mà nó cũng chẳng buông  tha,

Nó nằm vùng trong sợi dây thắt lưng,  nó nằm vùng trong vai nghệ sĩ,

Nó nằm vùng trong báo chí,  nó lấy  chậu rửa chân nó đựng lá cờ vàng.

Nhưng dù cho chúng quỷ quyệt ranh ma ta đâu dễ đầu hàng,

Thế là ta phải đấu tranh, phải  cởi quần lần nữa.

Ta cởi quần vạch cu đái tràn cửa hàng chúng nó.

Ta cởi quần lấy cứt trét  khắp nơi.

Với bọn cộng nô không thể nói bằng lời.

Phải  lấy cứt lấy cu làm vũ khí.

Nhưng mấy chục năm qua :

 

Ta vẫn sống trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.

Nên mỗi năm đến độ cuối tháng tư

Là ta lại nhớ lôi ra: quần tà lỏn.

Nhìn  nó để nhớ  cái  tháng tư uất hận

Nhớ cái ngày  vãi  đái  chạy năm xưa.

Mấy chục năm rồi ta vẫn giữ nó bên ta

Bên cạnh nó là  lá cờ vàng ba sọc.

Để nhắc lại mối hận xưa, hằng năm  ta có ngày quốc hận,

Khuyên cháu con ta phải nhớ mãi đến ngày này.

Ta chưa phục hận được thì con cháu ta thay,

Ta không còn sức thì ngồi gãi háng nhổ râu mà  tham  mưu cho bọn trẻ.

Cái quần tà lỏn của ta, 

Chứng tích lịch sử của  những ngày gian khổ,

Ta giữ nó  bên mình để nung nấu mối hờn căm.

Mối thù  đeo đẳng theo ta đã bao năm,

Mối thù  mà các cha cố của ta hằng nhắc nhở.

 

Lá cờ  nhắc cho ta tổ quốc cờ vàng  đã mất,

Cái quần tà lỏn nhắc ta niềm ô nhục năm xưa .

Nó sẽ song hành  đến khi cuộc đời ta kết thúc.

Và,

Nó vẫn mãi theo ta : tà lỏn – cờ vàng.

Chúa có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Con đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn con phảng phất được gần người .

Để chúa ban cho con sự sống đời đời.

Để đòi lại món nợ đã mấy mươi năm: cờ vàng, quần tà lỏn.

Trên đây  là tâm sự cờ vàng làm cho chúng ta thấy rõ hơn  mối lên quan mật thiết cờ vàng – quần tà lỏn.

Cho nên , cứ đến ngày 30.4 hằng năm là các anh cờ vàng  lại ôm nhau mà trách cứ thở than.

Các anh  đập đầu tức tối,  rên la tiếc nuối, trách móc giận hờn.

Các anh  lôi miếng vải vàng ba sọc ra để mân mê khóc hận, để  hồi tưởng mà dâng trào căm thù.

Hỡi các anh,  hãy cứ ôm nhau mà than thở,

Chó có sủa thêm vài  muơi năm nữa thì đoàn lữ hành vẫn tiến bước thênh thang.

Dù cho các anh có tức tối cuồng điên,

Có khóc lóc thở  than,  thì cũng chẳng ai thèm  thương hại.

Cứ vật vã đi, cứ hận đi,  cứ thét gào lên để mong có ngày chúa thương giúp các anh  phục hận.

Giúp các anh ru giâc mộng cờ vàng .

Thứ Năm, 4 tháng 11, 2021

NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐÃ BỘI ƯỚC ĐI THEO GIẶC VÀ NHẬN ĐƯỢC CÁI KẾT CỦA KẺ BẤT NHÂN, BẤT NGHĨA!

(ĐQT)-
NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐÃ BỘI ƯỚC ĐI THEO GIẶC VÀ NHẬN ĐƯỢC CÁI KẾT CỦA KẺ BẤT NHÂN, BẤT NGHĨA!
(58 năm ngày anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bị cấp dưới khai tử)
Ngô Đình Diệm vốn được Bác Hồ mời và tạo điều kiện thuận lợi để tham gia chính phủ Cách mạng với mong muốn trở thành người có ích cho nước, cho dân, nhưng hắn ta đã bỏ chỗ sáng để bước vào bóng tối không lối thoát; chỉ vì hám danh, hám lợi, hám quyền lực mà phản bội lại dân tộc ta; chọn ngoại bang để tôn thờ; hết thờ Pháp lại chuyển sang thờ Mỹ; trở thành tội nhân thiên cổ, để lại tiếng xấu muôn đời. Dù có nhảy xuống Hồng Hà hay Cửu Long muôn vạn lần cũng không sạch hết tội!
1. NGÔ ĐÌNH DIỆM:
Vào các năm 1930 và 1931, Ngô Đình Diệm đã giúp người Pháp đàn áp cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh của nông dân do những người Cộng sản tổ chức. Ngô Đình Diệm vùi dập cách mạng vì ông không ủng hộ cách mạng. Ông cho rằng cách mạng không thể quét sạch người Pháp, có thể sẽ đe dọa quyền cai trị của quan lại trong đó có hắn ta. Cũng chính vì “thành tích” đàn áp người yêu nước mà Ngô Đình Diệm từng làm đến chức Thượng Thư bộ Lại của triều đình Huế (tương đương với Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày nay) thay cho Nguyễn Hữu Bài và kể từ đó hắn đã làm tay sai cho giặc Pháp để tắm máu phong trào yêu nước của những người Cộng sản kiên trung.
2. BÁC HỒ LẤY ĐẠI CỤC LÀM TRỌNG KHI TIẾP DIỆM VÀ MỜI ÔNG TA THAM GIA CÁCH MẠNG:
Kho lưu trữ của Bảo tàng cách mạng Việt Nam Hà Nội, có sáu cuốn sổ tay khổ giấy học trò, ngoài bìa ghi Sổ tiếp khách. Đó là những cuốn sổ ghi hằng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp những người đã đến gặp Chủ tịch, từ ngày 04/9/1945 đến tháng 3/1946. Có lẽ còn nhiều cuốn sổ tiếp khách nữa, nhưng Bảo tàng không lưu trữ được, hoặc là mất, thất lạc, hoặc đến thời gian đó … do nhiều lý do mà không tiếp tục ghi. Qua các Sổ tiếp khách này có thể thấy điểm nổi bật: sổ đánh dấu số 5, ngày 15/1/1946, bên cạnh tên các vị khách, có dòng chữ “Cụ tiếp Ngô Đình Diệm”.
Tháng 9/1945, Ngô Đình Diệm bị Việt Minh bắt trên đường từ Sài Gòn ra Huế. Tại Huế, ông được (biết) anh ruột ông là Ngô Đình Khôi và con trai của ông Khôi là Ngô Đình Huân bị Việt Minh xử tử vì tội phản quốc. Ngô Đình Diệm gặp Bác vào tháng 1/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông Diệm tại Hà Nội với mục đích mời ông Diệm tham gia chính phủ liên hiệp. Stanley Karnow (tác giả sách Lịch sử Việt Nam (Viet Nam a history - New York, 1991 - NV) nhưng Diệm đã từ chối.


3. TÂM PHỤC KHẨU PHỤC BÁC HỒ:
Cuộc tiếp kiến Bác Hồ đã để lại cho ông Diệm một ấn tượng sâu sắc. Có lẽ vì vậy mà con người chống Cộng cực đoan này chưa một lần nào thất lễ với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau này, trong một cuộc trò chuyện thân mật với anh Hai Nhạ (cán bộ tình báo của Việt Nam) tại dinh Gia Long, ông Diệm vẫn nhớ lại hình ảnh mảnh dẻ, giản dị, phong sương của Cụ Hồ trong buổi tiếp. Cụ mặc quần “soóc”, chân đi dép cao su trắng với điếu thuốc lá trên môi, lời nói và cử chỉ rất mực lịch thiệp. Ông Diệm có thể thốt ra với Vũ Ngọc Nhạ một câu: “Cụ Hồ là bậc đại nghĩa, còn Qua là người tiểu khí. Nhưng nếu qua nhận lời cộng tác với Cụ Hồ thì qua biết ăn nói thế nào với dòng họ Ngô về cái chết của anh qua và cháu qua bởi tay Việt Minh”. Câu chuyện này là do ông Trần Quốc Hương, tức Mười Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, người trực tiếp chỉ đạo mạng tình báo chiến lược ở miền Nam thời chống Mỹ, trong đó có Vũ Ngọc Nhạ, nói với ông Ngô Trần Đức, đầu năm 2004.
Qua một số tư liệu trên, chúng ta có thể thấy: Đối với Ngô Đình Diệm, Cụ Hồ còn có ý định “mời ông Diệm giữ chức vụ quan trọng trong chính phủ” (như giáo dục, cải thiện mức sống nhân dân…). Đó là việc làm của bậc Đại Nhân, Đại Trí, Đại Nghĩa, Bác Hồ lấy đại cục làm trọng, biết rõ tài năng của Diệm nên muốn cảm hóa hắn ta để phục vụ cho mục đích chung là đấu tranh để giải phóng dân tộc nhưng vì hám danh, hám lợi và không vượt qua được “thù hằn” cá nhân (Ngô Đình Khôi, anh trai Diệm và cháu bị Cách mạng xử tử về tội phản quốc) nên hắn không nhận lời Bác Hồ. Sau cuộc đó, Bác Hồ đã thả Ngô Đình Diệm.
4. NGÔ ĐÌNH DIỆM LẤY VIỆC BẤT NHÂN, BẤT NGHĨA ĐỂ ĐÁP LẠI VIỆC LÀM ĐẠI NHÂN, ĐẠI NGHĨA CỦA BÁC HỒ VÀ CÁCH MẠNG QUẢ BÁO CHO KẺ BÁN NƯỚC.
Sau khi được tha tội, Ngô Đình Diệm về sống ẩn dật với Ngô Đình Nhu ở Đà Lạt. Sang Mỹ (1950), được đào tạo ở các chủng viện, ở Đại học Michigân (Michigan). Ngô Đình Diệm được Bảo Đại đưa lên làm Thủ tướng (7/1954) thay cho Bửu Lộc (Mỹ gây sức ép). Năm 1955, thực hiện cuộc “trưng cầu dân ý” giả hiệu để lật đổ Bảo Đại. Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống của ngụy Sài Gòn (bọn ngụy hay gọi là nền Đệ Nhất Cộng Hòa). Phá hoại hiệp định Giơnevơ (Hiệp định quy định sẽ tổng tuyển cử trước 1956 nhưng Mỹ, Diệm đã bội ước), Diệm ráo riết thực hiện mưu đồ chia rẽ lâu dài đất nước, chống phá cách mạng, thực hiện âm mưu của Mỹ biến Miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới; tàn sát người yêu nước với chính sách bạo tàn “giết nhầm hơn bỏ sót”; ban hành Luật 10/59, lê máy chém khắp Miền Nam; gây đau thương, tang tóc cho đồng bào ta, nhân dân ta. Ngăn chặn ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam sang Đông Nam Á, làm bàn đạp tiến công Miền Bắc Việt Nam. Tuy vậy, Ngô Đình Diệm vẫn không đáp ứng được yêu cầu thực thi chính sách thực dân mới của Mĩ nên Mĩ đã đưa một số tay sai mới làm cuộc đảo chính (1.11.1963) giết chết anh em Diệm, Nhu.
Ngô Đình Diệm là kẻ có tài năng, học thức; đó là điều không thể chối cãi; tuy nhiên, hắn ta dùng cái “tài” đó vào việc bất nhân, bất nghĩa nên cái “tài”trở thành tai ương, trở thành kẻ bất Trí, phản quốc. Đúng như Nguyễn Du nói “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài” và “chữ tài liền với chữ tai một vần”! Theo giặc và bị giặc giết, không gì có thể nhục nhã hơn cho một kiếp nhân sinh! Sự đớn hèn và nhục nhã của Diệm thì ngàn năm Nhật, Nguyệt cũng khó có thể che mờ!
5. MỸ DỰNG LÊN DIỆM RỒI LẠI GIẾT DIỆM; NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN MỘT THỜI “THỜ” DIỆM CŨNG LẠI THEO MỸ ĐỂ HẠ SÁT HẮN TA VÀ BÂY GIỜ BỌN NGỤY TÀN DƯ VÀ BỌN PHẢN QUỐC LẠI TƯỞNG NIỆM HẮN – TRÒ HỀ CỦA LỊCH SỬ.
Cuộc đảo chính năm 1963 đã đưa anh em Ngô Đình Diệm xuống địa ngục của trần gian, đền tội trước nhân dân Việt Nam; tuy nhiên, những kẻ giết hắn và cả gia tộc nhà Diệm lại là những kẻ đã dựng hắn lên và tôn thờ hắn một thời. Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm là kết cục bi đát nhất cho kẻ can tâm làm tay sai cho giặc để phản bội tổ quốc, tàn hạn nhân dân. Với việc giết Diệm thì bản chất của Đế quốc Mỹ cũng lộ rõ; đúng như lời Tổng thống (Pakistan), Ayub Khan, đã nói với Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon: “Cuộc thảm sát gia đình Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Làm đồng minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa là nên làm kẻ thù của Hoa Kỳ”. Có nghĩa là người Mỹ chỉ vì lợi ích quốc gia của họ mà thôi, đối với kẻ làm tay sai thì họ dựng lên được thì cũng có thể hạ xuống như cái cách mà người ta lật bàn tay mà thôi!
Sau 46 năm, những kẻ chống Cộng lưu vong ở hải ngoại và một số thành phần phản quốc ở trong nước lại “tưởng niệm” và hối tiếc vì đã sai lầm khi giết Diệm và cho rằng chính vì sai lầm này mà ngụy Sài Gòn sụp đổ; đúng là trò hề của lịch sử của một đám vong quốc nô! Dù cho cả một trăm, một ngàn Ngô Đình Diệm thì mãi mãi phi nghĩa sẽ không bao giờ thắng được chính nghĩa, bất Nhân không thắng được đại Nhân và bất Nghĩa chẳng bao giờ thắng Đại Nghĩa! Nhân dân Việt Nam sẽ đánh bại bất cứ kẻ thù nào dù chúng hùng mạnh và hung hãn đến đâu! Lịch sử dân tộc đã chứng minh điều đó!
Các ngươi nên nhớ rằng lịch sử dân tộc nói riêng và cả thế giới nói chung thì những kẻ phản quốc đều có cái kết tương đồng với Ngô Đình Diệm mà thôi, không thể khác được! Giống bất Nhân, bất Nghĩa nhân danh là “trí thức”, là “nguyên khí quốc gia” dưới vỏ bọc “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam nên lấy gương của Ngô Đình Diệm để tự răn mình, “buộc chỉ ngón tay” để không bội phản, trở cờ; làm việc thất đức.

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

SÀI GÒN TRƯỚC 30/4/1975 THẾ NÀO ?

(ĐQT)-
Thời gian gần đây tôi thấy trên mạng xã hội có nhiều bài viết - kể về sự PHỒN THỊNH - PHỒN HOA của Sài Gòn và miền Nam trước 30/4/1975.
==



Các bài viết thường đề cập đến việc đi học, chữa bệnh không mất tiền; một người đi làm nuôi cả gia đình; nhiều gia đình có 9, 10 người con nhưng không ai bị thất học...
Kể cả ở chương trình “Quán Thanh Xuân” đã được VTV1 truyền hình trực tiếp ( vào tối thứ bảy khoảng giữa năm 2020 ) - có một vị nhà báo trạc tuổi tôi - tên là HDN ( tôi có biết vị nhà báo này vì có thời gian học cùng trường Đại học Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh )
Theo vị nhà báo này tự giới thiệu: là con của cán bộ tập kết; sau 30/4/1975 vị nhà báo này được vào miền Nam...
Phát biểu tại chương trình Quán Thanh Xuân - đại ý : “vị ấy” quá ngỡ ngàng trước cảnh tượng trên đường sắp đến và khi đến Sài Gòn - rất khác với tưởng tượng của vị nhà báo ấy khi ở Hà Nội “có lẽ do có những thông tin khác nhau“... và cuộc sống đầy đủ, sung túc; đầy đủ các loại hàng hóa của người Sài Gòn và của gia đình vị ấy ở một tỉnh ở miền Nam so với cuộc sống của vị nhà báo ấy ở Hà Nội...
Tôi không phản đối hoặc phủ nhận những nội dung các bài viết trên, cũng như ý kiến của vị nhà báo nọ đã nói trong “Quán Thanh Xuân”...
Vì xã hội, cuộc sống ở đâu, lúc nào cũng vậy: muôn màu, muôn vẻ, “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh“...

Tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi người, mỗi gia đình; góc nhìn của mỗi người...
Những người thật sự cầu thị, cần tìm hiểu, nghiên cứu... chịu khó tìm hiểu: đọc, nghe từ nhiều phía, nhiều nguồn - mới có thể hình dung được bức tranh tương đối về Sài Gòn, Miền Nam trước 30/4/1975 như thế nào:
Tôi năm nay trên 64 tuổi, theo gia đình vào Sài Gòn từ năm 1967, ở tại khu Cù Lao (nay là khu vực trung tâm TDTT- phường 02, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh).
Hàng ngày mọi người đi học, đi làm... phải qua đò sang quận 1;
Gia đình tôi ở trong căn nhà thuê: mái và vách xung quanh bằng lá dừa nước, nền nhà bằng đất (không có tráng xi măng) - hàng xóm xung quanh đa số ở nhà sàn trên kênh Nhiêu Lộc. Đi vệ sinh bằng nhà cầu cá tra ( công cộng ) - cách nhà khoảng trên dưới 100 mét - sau này có người gọi là “CẦU TÕM“ - tuy là nhà vệ sinh công cộng - nhưng được cái thoáng mát đông vui thoải mái .. và mỗi lần nghe “TÕM“ một cái - một bầy cá tra vùng vẫy tranh phần - nghe âm thanh rất vui tai - cho nên sau này tôi mới hiểu tại sao người ta gọi là “CẦU TÕM“ ...
Khu vực nhà tôi ở lúc đó - không có điện, nước; nước dùng để nấu ăn, uống phải mua từ trên các ghe bán dạo trên kênh Nhiêu Lộc ; ban đêm thắp sáng bằng đèn dầu ....
Mỗi khi chuẩn bị bữa ăn; hoặc còn cơm nguội dùng để ăn sáng ... mẹ tôi, chị tôi sai tôi lấy cái chén ( ngoài Bắc gọi là cái bát ) hoặc cái chai ra tiệm tạp hoá trong xóm mua một ít dầu ăn, nước mắm , nước tương, bột ngọt ( mì chính )... để nấu thức ăn, chiên ( rang ) cơm ...
Từ năm 1967 đến năm 1975 tôi thay đổi nơi ở rất nhiều nơi, nhưng có 3 ( ba ) nơi tôi ở trên 1( một ) năm :
- Đầu tiên tôi ở khu Cù Lao ( nay là phường 02 quận Phú Nhuận ) - nơi này hoàn toàn không có điện, nước máy ( nước Thủy Cục - bây giờ chúng ta hay gọi nước của Công ty Cấp Nước ).
- Sau đó tôi ở khu vực Cây Quéo ( nay là phường 05 quận Phú Nhuận ) - ở đây dùng nước giếng múc như ở nông thôn miền Bắc và miền Trung; có điện nhưng rất yếu - chỉ dùng được bằng bóng đèn tròn ( sau này hay gọi là đèn sợi tóc ) - không sử dụng được bóng đèn ne’ong ( tức là bóng đèn dài ); mãi đến năm 1972 mới thay bằng điện 220V .
- Nơi thứ ba là khu vực Khám Chí Hoà - hiện nay là phường 13 quận 10 - ở đây có điện nước .
Tôi nhớ lại: trong hai nơi tôi ở lúc đầu - trong nhà chưa bao giờ có được một chai dầu ăn một gói bột ngọt; nếu có chỉ có được chai xì dầu 2 lá Bồ đề của Chùa Giác Sanh sản xuất; gạo, nước mắm, dầu ăn, bột ngọt, đường... đều mua lẻ để sử dụng hàng ngày ...
Tất nhiên các tiệm tạp hoá, các sạp bán hàng ở các chợ đều có bán lẻ như thế và tôi cũng xin nói thêm: gia đình tôi cũng không phải thuộc loại nghèo mạt hạng ở Sài Gòn lúc đó...
Sáng dậy, có hôm được ăn cơm chiên, có hôm nhịn đói, qua đò để đến trường học.
Mẹ tôi, chị tôi bán rau ở vỉa hè trên các con đường xung quanh chợ Tân Định, chợ Sài Gòn ( Chợ Bến Thành ) .
Tháng 7 năm 1967 - lúc đó tôi đã 10 tuổi, tôi được đến trường lần đầu tiên trong đời - vì đã lớn, nên gia đình xin vào học lớp ba - lớp học của tôi được trường sắp xếp 3 lớp: lớp ba, lớp tư, lớp năm ( nay là lớp lớp ba, lớp hai, lớp một ) học chung trong một phòng và có một thầy giáo dạy cả ba lớp... Ngôi trường đầu tiên tôi học ở đường Trần Nhật Duật phường Tân Định quận 1 ( trước 30/4/1975 và hiện nay khu vực này đều gọi là phường Tân Định )
Chị tôi, lúc đó 19 tuổi - ( cao lớn phù hợp với độ tuổi ) nhưng khi cảnh sát xét giấy ( bây giờ là kiểm tra ): chị tôi chưa có thẻ căn cước, và theo giấy khai sinh, chị tôi mới có 13 tuổi - cảnh sát nghi ngờ là Việt Cộng (người hoạt động Cách Mạng ) nên bắt giam tại trại giam cảnh sát quận 1 năm trên đường Mạc Đỉnh Chi ( kế bên toà Đại sứ Mỹ ); sau gần 10 ngày điều tra, cảnh sát không phát hiện được mối liên hệ nào giữa chị tôi với Việt cộng nên chị tôi được ra tù...
Trong quá trình chị tôi bị giam, tôi theo gia đình vào thăm nuôi , phải đi bộ từ nhà đến trại giam ( lúc đó, hàng ngày tôi đi bộ trên đoạn đường 5 - 6 cây số là chuyện rất bình thường )... Trong khi đó các bạn trạc tuổi tôi hàng ngày đi học đều có xe đưa đón, xong xe đưa đón mẹ các bạn ấy đi chợ, đi chơi bằng xe “CÔNG XA“ ( xe công ) là việc rất bình thường - lúc đó tôi nghĩ đó là việc đương nhiên vì ba của các bạn ấy là sĩ quan cấp Tá ...
Hiện nay thỉnh thoảng tôi nhìn thấy các anh em Công an phường , trật tự đô thị ... đuổi bắt người bán hàng chiếm dụng lòng lề đường ...
Tôi lại nhớ đến mẹ tôi lúc đó - bán trầu cau trên các lề đường xung quanh chợ Sài Gòn ( chợ Bến Thành )- nhiều lần bị Cảnh sát và Nhân dân tự vệ bắt đem về đồn Cảnh Sát - có thể do mẹ tôi nhiều tuổi và hơi chậm chạp nên Cảnh Sát chưa nghi ngờ là Việt Cộng; cho nên sau đó mẹ tôi được tha, họ chỉ lấy hàng hoá, để không được bán nữa ...
Viết đến đây, tôi nhớ lại tình cảnh của những thanh niên ( khái niệm chỉ con trai; còn con gái thời đó gọi là thanh nữ khác với miền Bắc: thanh niên là thế hệ trẻ - kể cả nam và nữ ) lúc đó không dám đi ra ngoài đường nếu không có một trong các giấy tờ sau :
Giấy hoãn dịch vì lý do gia cảnh
Giấy hoãn dịch vì lý do học vấn
Giấy hoãn dịch vì lý do tôn giáo
Họ có thể bị cảnh sát hoặc quân cảnh khám xét và bắt giữ bất cứ lúc nào - Cảnh sát, an ninh, mật vụ ... có quyền vào trong nhà khám xét bất cứ lúc nào; nếu họ nghi ngờ có liên quan đến Việt Cộng và để bắt người đi lính !
Tôi từng chứng kiến: có nhiều người trốn ở nhà lâu ; do quá tù túng - không chịu nổi ; nên đành phải đăng ký đi lính , một thời gian ngắn sau đó đã tử trận .... gia đình gào khóc , kêu tên ông Thiệu ( Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu ) đòi phải trả lại chồng , con cho họ ... !!!
Tôi đi học được khoảng vài tháng, vì gia đình chưa đóng học phí , nên tôi phải nghỉ học .
Gần Tết Mậu Thân ( đầu năm 1968 ), người tôi mệt mỏi, phù thũng ... gia đình phải đưa tôi vào bệnh viện Nhi Đồng ( ở đường Sư vạn Hạnh Sài Gòn - bây giờ là bệnh viện Nhi Đồng 1 ) ;
Tại bệnh viện, bác sĩ cho biết : tôi bị suy dinh dưỡng - nên bị phù thũng như thế, phải nhập viện... gần Tết, gia đình cho về nhà; rồi Tổng tấn công xuân Mậu Thân xảy ra - tôi trốn luôn, không vào lại bệnh viện theo lời dặn của bác sĩ ....
Nhớ lại thời gian tôi nằm bệnh viện, mỗi lần đi vệ sinh tôi rất sợ vì dơ bẩn ... được dịp gần Tết - bệnh nhi ít, bác sĩ, y tá ... cũng vắng nên tôi lẽn vào nhà vệ sinh của nhân viên bệnh viện cho đỡ sợ ...
Viết đến đây, tôi nhớ đến việc mẹ tôi, chị tôi nuôi cha tôi nằm trong bệnh viện Bình Dân trước đó vài tháng kể lại chuyện nhà vệ sinh trong đó khủng khiếp thế nào ... cũng như những chú chuột to gần bằng chai bia laver ( loại 65 cc ) chạy ngang nhiên trong bệnh viện ... Tôi không nhớ rõ, có lẽ các bệnh viện này không thu tiền; nếu có, chỉ thu một số tiền tượng trưng ...
Sài Gòn trước năm 1975 phồn thịnh - phồn hoa đối với tôi, gia đình tôi và có lẽ của hàng vạn gia đình khác là như thế đó ...
À, nhân đây tôi cũng xin nói thêm về các con hẻm nhỏ nơi tôi ở và một số con hẻm ở các khu vực trung tâm Sài Gòn lúc đó ( hiện nay như phường Tân Định quận 01, phường 05 quận 3 ... ) mà tôi có dịp đi đến đó ( những tháng, ngày gần 30/4/1975 ): nền đường gập ghềnh, lồi lõm, đọng nước, ban đêm không có đèn đường - sử dụng ké ánh sáng từ các nhà hai bên đường hẻm ...
Tất nhiên, Sài Gòn trước năm 1975 đối với một số người cũng rất phồn thịnh - phồn hoa ...
Với những khách sạn cao tầng như : Caravell , PALACE ... nhiều nhà hàng sang trọng như: Á Đông, Bát Đạt, Broda, Grival, Liberty, Maxim ... những trung tâm thương mại đầy ắp hàng hiệu trên thế giới như: Thương Xá TAX, EDEN .... Những bệnh viện sang trọng không khác gì khách sạn như: bệnh viện Đồn Đất ( Grall ) nay là bệnh viện Nhi Đồng 2, bệnh viện Quảng Đông, Triều Châu, Sùng Chính ...
Hà Nội lúc đó - có thể - không so sánh được với Sài Gòn về nhà cao tầng, đường sá, xe cộ, hàng hoá ...
Như tôi đã nêu ở trên - tôi không phủ nhận những nội dung trong các bài viết - cũng như ý kiến của vị nhà báo nọ; tôi chỉ xin nêu ra để mọi người biết và hiểu thêm ...
Nhất là nhiều người ở Hà Nội nói riêng, miền Bắc nói chung trong đó có những người tập kết là bà con, họ hàng của tôi trước năm 1975 biết và hiểu thêm về sự phồn thịnh - phồn hoa của cái gọi là “ SÀI GÒN - HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG - THỦ ĐÔ CỦA VNCH “ ....
Tôi chỉ xin ghi chép một vài chuyện như thế ... có dịp tôi sẽ trao đổi thêm về Sài Gòn - Miền Nam trước 30/4/1975 - để mọi người biết và hiểu thêm về một góc nhìn khác - nhất là các bạn trẻ, trong đó có các em, các cháu - nhất là để cho các con của tôi được biết, được hiểu ...
(Quảng Ngãi ngày 30/4/2021)
Cre: Đỗ Ngọc Nguyên Khôi - Người từng sống suốt thời trẻ tại Sài Gòn xưa !

Bài viết mới nhất