THẤT BẠI trong khâu chuẩn bị là chuẩn bị cho một THẤT BẠI!

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

Nghị quyết 36 và một nhà báo người Mỹ gốc Việt


Năm 2006, hai năm sau khi Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết 36) được ban hành, nhà báo Etcetera Nguyễn Quang Trường ở tuần báo Việt Weekly (Mỹ) lần đầu tiên từ nước Mỹ về Việt Nam tác nghiệp. Từ đó, qua tiếp xúc, quan sát, suy nghĩ, anh tự nhận ra mình đã sai lầm, để rồi từ sự thay đổi về nhận thức cũng như tình cảm và trách nhiệm đối với Tổ quốc, Bác Hồ và dân tộc... anh quyết định thường xuyên về Việt Nam lặn lội làm báo để thông tin kịp thời với bạn đọc ở Mỹ và bạn bè quốc tế về tình hình đất nước và làm từ thiện. Qua hàng nghìn video-clip do anh thực hiện trên mọi miền đất nước được công bố trên Văn hóa Việt Nam TV, có thể thấy Etcetera Nguyễn Quang Trường là người rất nặng lòng với quê hương và văn hóa Việt Nam. Bài viết gồm hai kỳ của Etcetera Nguyễn Quang Trường gửi đến Báo Nhân Dân vừa là tâm sự, vừa cho thấy tinh thần của Nghị quyết 36 đã giúp một người Mỹ gốc Việt thay đổi như thế nào. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
(Kỳ 1)
Đối với tôi, Nghị quyết 36 là cánh cửa rộng mở. Nói nôm na thì Nhà nước Việt Nam bảo rằng ngôi nhà xưa của tổ tiên giờ đã có nhiều đổi thay, các anh chị - những đứa con ở xa, nên về thăm. Từ đó, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài vốn còn ngại ngùng, thậm chí còn mặc cảm, đã trở về quê hương. Nhưng tôi biết sự trở về không phải ai cũng giống ai. Có người về là vào phòng khách, thắp hương trên bàn thờ ông bà, vui ngày đoàn tụ, đi thăm hỏi họ hàng, anh em, kết thêm bạn mới, góp sức xây dựng quê hương. Có người lại vào nhà vệ sinh, chui xuống gầm giường, ngó mấy chỗ bẩn thỉu trong ngôi nhà chưa hoàn thiện rồi họ đứng ở đó để mô tả cả ngôi nhà. Có người trở về làm ăn, buôn bán lương thiện, cũng có người ngỡ Việt Nam giờ như “cái bánh” có thể dễ dàng chia chác kiếm được món tiền ôm đi, nên về để lừa gạt. Sau rồi, người thành công thì không nói ra mà tiếp tục âm thầm làm việc, cống hiến; người thất bại thì về tới bên kia là la toáng “cộng sản thế này, cộng sản thế kia” và dựng lên một số vụ việc theo kịch bản không đúng với sự thật. Tuy nhiên, số người có suy nghĩ, việc làm tiêu cực không nhiều, con số mỗi năm hàng triệu người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương giúp tôi hiểu, khi tấm lòng của quê hương luôn rộng mở thì không lẽ gì những người con đất Việt xa xứ lại không trở về.
Năm 2006, nhân sự kiện Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC 2006) tổ chức tại Hà Nội, tức là hai năm sau ngày Nghị quyết 36 ra đời, tôi từ nước Mỹ về Việt Nam với tư cách là phóng viên của tuần báo Việt Weekly. Qua quá trình tác nghiệp, tiếp xúc, quan sát và suy ngẫm, tôi phát hiện được một điều mà sau đó đã tạo ra bước ngoặt của cuộc đời tôi. Đó là đất nước nơi tôi sinh ra hoàn toàn khác, đã rất khác so với thời gian tôi rời nước ra đi, trái ngược với những gì tôi đã biết, đã nghe kể, đã quan niệm khi sống ở Westminster (Oét-min-tơ). Nhớ lại tôi thật sự xấu hổ, vì tôi từng nghĩ sai về chính quyền Việt Nam, về nhân dân Việt Nam, về họ hàng của tôi ở miền bắc... Thú thực, lần đầu về nước tôi không muốn gặp họ hàng, vì nghĩ họ sẽ xin tiền. Đưa năm-ba chục nghìn đồng thì ít quá, năm ba chục triệu đồng thì nhiều quá, mà tôi thì có rủng rỉnh gì đâu. Tôi trốn hết, song sau tôi thấy mình là người không ra gì. Bà con của tôi, người quen của tôi, bạn bè tôi giờ hầu hết không còn nghèo khổ. Họ chịu khó làm ăn, vượt qua khó khăn và họ giàu có, họ đãi đằng tôi chân tình, nếu tôi cần họ sẵn sàng mua cả vé máy bay giúp tôi đi tác nghiệp ở các tỉnh phía nam. Họ chỉ mong đợi ở tôi điều duy nhất: “Trường ơi (hay con ơi, cháu ơi), hãy làm điều gì đó tốt đẹp cho đất nước”. Là người làm trong lĩnh vực truyền thông, tôi không thể làm ngơ trước mong mỏi chính đáng đó, mà phải nỗ lực làm được những gì tốt đẹp cho đồng bào, cho quê hương của tôi, là cung cấp thông tin khách quan, trung thực về ngôi nhà đẹp đang tiếp tục được hoàn thiện, ngay cả gầm giường hay nhà vệ sinh cũng đang được dọn dẹp sạch sẽ. Và tôi lặn lội đến mọi miền đất nước, đến với nhiều vùng sâu, vùng xa, hơn 4.000 video-clip tôi công bố trên Vhvntv (Văn hóa Việt Nam TV) là bằng chứng cụ thể.
Về Việt Nam, tôi thấy mọi người nhắc tới Bác Hồ với lòng kính trọng cố gắng để học tập, noi theo. Họ hàng của tôi cũng thế, luôn kính trọng Người, coi Người là thần tượng, thậm chí như một vị thánh. Như một người bạn nói với tôi đại ý: Chúng ta có thể bất toàn, nhưng trong sự hoàn hảo của Bác Hồ thì cái bất toàn là không đáng kể. Vì vậy tôi bắt đầu tìm hiểu về Người qua sách báo, phim ảnh, rồi biết được nhiều điều mà trước đó tôi không hề hay biết. Tháng 4-2019 vừa rồi, tôi về thăm quê hương Bác Hồ ở Nam Đàn (Nghệ An). Ngắm ngôi nhà tranh đơn sơ của gia đình Bác, nơi Bác sinh ra và sống khi còn nhỏ, tôi càng nhận thức sâu sắc về một con người vĩ đại cả đời phấn đấu, hy sinh vì nước, vì dân. Trong các bức tranh ghi những lời bất hủ của Bác Hồ được treo trong ngôi nhà tranh được phục chế như hàng trăm năm trước, tôi nhớ nhất câu “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đọc câu chữ đó, tôi xúc động vô cùng, đồng thời cũng ân hận vô cùng, tự dằn vặt và rất xấu hổ vì cách đây hơn 20 năm tôi từng vẽ một số bức tranh chống cộng, xúc phạm Người. Dù đó là chuyện xảy ra trong quá khứ thì hôm nay khi viết những dòng này, tôi vẫn muốn nói lời xin lỗi đồng bào của tôi, xin lỗi quê hương của tôi và cầu mong được tha thứ.
Theo tôi, Nghị quyết 36 khẳng định người Việt Nam tại nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc chính là hướng vào tâm tình của người Việt Nam sống ở nước ngoài, rằng chúng ta cùng một mẫu số chung, đó là dân tộc, là cùng do Mẹ Việt Nam sinh ra. Vì thế mỗi người Việt Nam cần khép lại quá khứ, để cùng chung tay đóng góp những điều tốt hơn cho dân tộc, nhất là khi nước Việt Nam của chúng ta đã và đang có một vị thế mà tôi nghĩ là tuyệt vời. Riêng với tôi, Nghị quyết đã mở cửa để tôi trở về quê hương với tư cách nhà báo, tạo cơ hội giúp tôi có những chuyến đi tác nghiệp, cho tôi được sống tại nơi có tổ tiên của tôi, cho tôi được đi ngang dọc đất nước mà không gặp bất cứ trở ngại nào để chứng kiến và phản ánh về đất nước phát triển. Nhưng ở bên ngoài kia, vẫn có người dị ứng với Nghị quyết 36, họ vẫn không chấp nhận bản Nghị quyết mà mục đích duy nhất là làm cho người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước đoàn kết một lòng xây dựng và bảo vệ quê hương, họ vẫn liên tục sử dụng truyền thông để chống phá.
Gia đình tôi theo Công giáo, vốn sinh sống ở Nam Định, tới năm 1954 di cư vào nam, và tôi sinh ra ở đó. Nên từ nhỏ tôi đã sống dưới chế độ “Việt Nam cộng hòa”. Năm 1975 đất nước thống nhất, bố tôi là sĩ quan của chế độ cũ nên đi học tập. Tới năm 1988, gia đình tôi sang Mỹ định cư. Ở tuổi 20, tôi sống trong một cộng đồng mà trong đó rất nhiều người giữ nỗi thù hận, có tinh thần chống cộng như nằm trong huyết quản. Bây giờ nhìn lại, có người đã không sai khi bảo rằng ở Little Saigon (Sài Gòn nhỏ) hồi ấy, có ai là không chống cộng. Tuổi còn trẻ, đến Mỹ không phải như một kẻ phản bội mà do khác biệt quan điểm chính trị và nhu cầu kinh tế, nhưng lại sống giữa nơi được gọi là “chốn gió tanh, mưa máu”, tôi không có thời gian suy nghĩ, lựa chọn và bị cuốn theo mọi người. Để tham gia với người lớn và nhằm kiếm tiền, tôi đã vẽ một số bức tranh theo chủ trương của một số tờ báo và cộng đồng chống cộng, để về sau tôi thật sự xấu hổ, chỉ biết tự trách mình. Vào lúc đất nước gặp vô vàn khó khăn, là người Việt Nam, lẽ ra phải chung lưng đấu cật cùng đồng bào vượt qua thì tôi đã bỏ nước ra đi, lại còn dùng bút vẽ của mình để minh họa cho mưu đồ của số người chống lại Tổ quốc. Đó là lỗi lầm không dễ tha thứ, nhưng tôi tin sẽ được tha thứ vì Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất giàu lòng vị tha, dân tộc luôn bác ái với nghĩa tình “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại”.
Tôi đã sống giữa “thủ phủ chống cộng” của người Mỹ gốc Việt trong một thời gian dài của tuổi trẻ. Đó là thời kỳ năm nhà báo người Mỹ gốc Việt là Đạm Phong, Lê Triết, Đỗ Trọng Nhân, Dương Trọng Lâm, Phạm Văn Tập bị giết hại đến nay vẫn chưa tìm ra hung thủ. Đó là thời kỳ bất kỳ người nào có lời nói trái ngược ý muốn của người chống cộng là bị úp cái mũ “cộng sản”, “tiếp tay cho cộng sản” và bị triệt hạ đến khuynh gia bại sản. Thậm chí người chống cộng còn sử dụng cả “cộng sản” để dậm dọa mấy chủ cửa hàng ở chợ Bolsa nhằm trục lợi. Thí dụ buổi tối họ đến bảo chủ cửa hàng: “Món hàng này có dòng chữ “made in Vietnam”, lọ mắm ruốc, mắm tôm kia sản xuất tại Việt Nam,... như vậy là cửa hàng có quan hệ với cộng sản, chúng tôi sẽ biểu tình phản đối”! Bị hù như thế, chủ cửa hàng sợ khiếp vía vội hỏi lại: “Bây giờ các ông tính giải quyết vụ này ra sao?”, và nhận được câu trả lời: “Giải quyết gì nữa, đưa chúng tôi chục thùng sữa đậu nành bồi dưỡng anh em đấu tranh, bảo trợ một vài nghìn USD để chúng tôi làm mấy cái banner chống cộng”. Vậy là họ phải lén lút cắn răng đưa hàng và tiền, để hôm sau sẽ không bị biểu tình phản đối. Chưa nói để cạnh tranh với nhau, có chủ cửa hàng lại đưa tiền cho mấy ông “biểu tình chống cộng chuyên nghiệp” để chống lại ông chủ cửa hàng khác có bán hàng sản xuất ở Việt Nam, đến nỗi sập tiệm vì không thể tồn tại nổi. Hầu hết các ông chủ chợ ở nơi tôi sinh sống đều bị áp lực như vậy. Khi còn làm ở tuần báo Việt Weekly tôi nhận được nhiều lời tố cáo người chống cộng “ăn trên xương máu của người lao động chân chính” là đề cập những trường hợp như vậy. Sau hơn 20 năm tôi tự hỏi, nếu tôi không từ bỏ “vũng lầy Bolsa” trở về quê hương để tìm lộ trình mới cho cuộc đời và làm những việc thật sự ý nghĩa, nếu tôi không sớm nhận ra truyền thông của người chống cộng ở hải ngoại cố dựng lên “ngọn cờ chính nghĩa quốc gia, đấu tranh cho dân chủ, dân quyền ở Việt Nam” chỉ là đưa ra cái bánh vẽ, là chiêu bài giúp họ thực hiện mưu đồ vì lợi ích cá nhân ích kỷ, nói cách khác là họ lôi kéo người Việt ở nước ngoài vào trò chơi lừa đảo để kiếm lợi nhuận từ trò chơi đó... thì không biết hôm nay tôi ra sao, có thể an tâm và thanh thản ngồi viết ra những dòng này hay không?
(Còn nữa)
NGUYỄN QUANG TRƯỜNG

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2019

Lần lại hồ sơ dòng họ Ngô Đình: Ngô Đình Khả là ai?


Khi làm Phó tướng cho viên quan khét tiếng Nguyễn Thân ra Bắc đánh dẹp nghĩa quân Cần Vương ở Vụ Quang, Ngô Đình Khả đã gây ra nhiều tội ác. Lúc đã dồn người anh hùng Phan Đình Phùng vào thế cùng, Ngô Đình Khả đang tâm theo lệnh Nguyễn Thân đào mả lấy xác cụ Phan trộn thuốc súng, bỏ vào súng thần công bắn xuống dòng sông Lam…
Cách đây gần 45 năm, vào tháng 11/1963 tại Sài Gòn đã xảy ra một cuộc đảo chính đẫu máu do một số chính khách và tướng lĩnh quân đội Sài Gòn tiến hành với sự giật dây và hỗ trợ của các quan thầy tới từ bên kia đại dương, giết chết những  đồng minh đã trở nên không còn hữu dụng nữa của Washington là Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Đằng sau sự việc này cho tới nay vẫn còn không ít điều bí ẩn và những thông tin bất nhất.
Cũng còn nhiều vấn đề nằm trong bóng tối như thế là hành tung của dòng họ Ngô Đình, đặc biệt là ông Ngô Đình Khả, người cha đã từng sinh ra hai anh em họ Ngô khét tiếng của cái gọi là nền "đệ nhất cộng hòa" ở miền Nam nước ta những thập niên giữa thế kỷ trước. Chính từ tư duy và cách tham chính của ông Ngô Đình Khả về sau đã dẫn tới những tai họa cho cả một dòng họ đã chọn con đường chỉ hướng tới phương Tây làm cứu rỗi.
Ông Ngô Đình Khả, tên theo đạo là Micae, sinh năm 1857 trong một gia đình Công giáo ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình và  thời nhỏ cũng được giáo dục theo những nguyên tắc chung của Nho giáo. Đồng thời với việc này, cậu bé Khả thường được cha đẻ là Giacôbê Ngô Đình Niêm cho đi giúp lễ với một vị linh mục Pháp ở họ đạo Mỹ Duyệt Hạ (cũng ở huyện Lệ Thủy).
Năm 1870, Ngô Đình Khả được linh mục Caspar (Lộc) cho đi học tại Đại chủng viện của dòng Thừa sai Paris tại đảo Paulo Pinang, Mã Lai (Malaysia ngày nay). Dùi mài kinh đạo cũng sáng dạ như ai nên trở về nước, Ngô Đình Khả được phân dạy môn triết tại Đại chủng viện giáo phận Huế trong thời gian thử thách để được chọn lên chức linh mục.
Tuy nhiên, số phận của ông đã hẩm hiu vì qua nhiều năm, ngay cả khi không ít học trò được thụ phong linh mục nhưng Ngô Đình Khả vẫn không được bề trên ngó ngàng tới. Thế là năm 1878, Ngô Đình Khả đành rời tu viện làm giáo dân bình thường và lấy vợ.
Biết rõ vốn ngoại ngữ của Ngô Đình Khả, linh mục chính xứ Phú Cam là Eugène Marie - Joseph Allys (1852-1936), đã giới thiệu Ngô Đình Khả nhận thông dịch tài liệu tiếng Latinh và tiếng Pháp cho lính Pháp làm phương kế sinh nhai…
Ông cũng được làm thông ngôn cho các quan chức thực dân với triều đình Nguyễn nên có nhiều mối quan hệ tế nhị. Những mối quan hệ đó đã giúp Ngô Đình Khả có được ít nhiều hào quang nào đó trong con mắt của triều đình Huế, vốn đang rất lép vế trước những kẻ ngoại bang da trắng.
Và vì thế nên vua Đồng Khánh đã giao cho Ngô Đình Khả chức tổng chỉ huy binh đội của triều đình. Tuy nhiên, vốn chẳng có sở trường gì về quân sự nên chỉ sau bốn tháng, Ngô Đình Khả đã phải rời khỏi chức vụ này và mượn cớ bà mẹ bị lâm trọng bệnh, đã xin từ chức để thực hiện chữ hiếu cho một công đôi việc.
Thất bại lần đầu nhưng Ngô Đình Khả vẫn chưa nguôi mộng làm quan. Khi vua Thành Thái lên ngôi, Ngô Đình Khả với danh vọng của một người từng tu nghiệp đạo Tây đã tìm được cửa để trở thành một quan chức giáo dục của triều đình.
Sở học trường dòng đã giúp cho Ngô Đình Khả làm được không ít việc trong những nỗ lực xây dựng Trường Quốc học Huế, kết hợp truyền bá văn hóa phương Tây với văn hóa bản địa. Những kẻ bảo hộ da trắng dĩ nhiên là rất tâm đắc với việc có được một nhân vật thân tín theo đạo Thiên Chúa ở trong chính quyền phong kiến nên đã không tiếc sức phù trợ cho Ngô Đình Khả. Triều đình nhà Nguyễn cũng trọng dụng Ngô Đình Khả. Ông ta từng làm đến chức Cơ mật viện, quan hàm chánh tứ phẩm, rồi được thăng đến Thượng thư Bộ Công…
Có nguồn tư liệu cho rằng, Ngô Đình Khả cũng thấm thía được nỗi gian nan của những thường dân nên khi tiếp thu được ít nhiều những tư tưởng văn minh của phương Tây cũng muốn ít nhiều cải cách cho đỡ cơ cực nước Nam. Và ông cũng muốn tìm những phương thức phát triển hòa bình để tìm lại nền độc lập cho dân tộc.
Có giai thoại kể về việc vua Thành Thái bị thực dân Pháp vu cho bị bệnh điên và ép triều đình  Huế ký sớ xin vua thoái vị rồi đưa qua an trí tại đảo Réunion. Hầu hết các vị thượng thư khác đều ký vào tờ sớ này nhưng chỉ duy nhất Phụ đạo đại thần Ngô Đình Khả không ký. Câu "Đầy vua không Khả" xuất hiện là vì thế. Sau vụ này, Ngô Đình Khả dường như đã bị bạc đãi và chỉ tới triều vua Khải Định "con rồng tre" mới lại được phục hồi quyền lợi, được truy lĩnh đầy đủ lương bổng của 12 năm bị huyền chức…
Tuy nhiên, có nhiều cứ liệu lịch sử cho thấy, Ngô Đình Khả đã không vượt qua được những hạn chế cố hữu của tầng lớp quan lại thượng lưu dưới thời Pháp thuộc và trong những tình huống cần quyết liệt lựa chọn giữa vinh thân phì gia và cứu dân cứu nước, đã cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, sát hại những người yêu nước chân chính.
Khi làm Phó tướng cho viên quan khét tiếng Nguyễn Thân ra Bắc đánh dẹp nghĩa quân Cần Vương ở Vụ Quang (căn cứ kháng chiến của Phan Đình Phùng), Ngô Đình Khả đã gây ra nhiều tội ác. Lúc đã dồn người anh hùng Phan Đình Phùng vào thế cùng, Ngô Đình Khả đang tâm theo lệnh Nguyễn Thân đào mả lấy xác cụ Phan trộn thuốc súng, bỏ vào súng thần công bắn xuống dòng sông Lam… --PageBreak--
Một số nguồn sử liệu cho rằng, Ngô Đình khả phải chịu trách nhiệm chính trong việc thực dân Pháp biến khu vực Trấn Bình Đài ở Huế thành nhà thờ. Vào đầu thế kỷ XIX, khi xây dựng kinh thành, nhà Nguyễn lập Trấn Bình Đài này để bảo vệ Kinh đô từ phía Đông Bắc. Những đơn vị lính Pháp đã tìm rất nhiều cách chiếm lĩnh khu vực trọng yếu này trong quá trình đánh thành Huế.
Trong Hiệp ước Giáp Thân (6/1884), ở điều 5, thực dân Pháp ép nhà Nguyễn phải nhượng Trấn Bình Đài cho lính Pháp đóng quân. Cái tên Đồn Mang Cá có từ đó. Khi kinh đô Huế thất thủ năm 1885, lính Pháp đã đánh chiếm khu vực Linh Hựu Quán và một số công trình khác của triều đình.
Tới năm 1886, viên toàn quyền Paul Bert được “quân sư” Trương Vĩnh Ký tư vấn, lại ép vua Đồng Khánh nhượng tiếp khu đất nằm giữa trấn Bình Đài và Linh Hựu Quán để chúng xây dựng thêm doanh trại, đồn bốt, nhà thương, kho hậu cần... Linh Hựu Quán bị triệt giải từ đó. Và cũng từ đó người dân ở Huế gọi khu nhượng địa mới này là Mang Cá Lớn, khu Trấn Bình Đài cũ là Mang Cá Nhỏ.
Lúc bấy giờ có một số người dân theo đạo Thiên Chúa ở thôn Cự Lại (vùng Thuận An) lên tá túc xung quanh doanh trại Pháp ở khu Mang Cá, kiếm kế sinh nhai bằng nghề bồi bếp, buôn bán... Lấy lý do giúp đỡ con chiên, linh mục Joseph Allys, vốn rất quen thuộc với Ngô Đình Khả, xin xây một nhà thờ trên đất Linh Hựu Quán để giáo dân "có nơi đọc kinh sớm tối, lễ lạt Chúa nhật". Nhưng vì luật lệ của nhà Nguyễn lúc đó cấm xây dựng nhà thờ trong khu vực kinh thành nên việc này đã không được xử lý.
Mãi tới khi Ngô Đình Khả được ngồi ở chức chỉ huy thị vệ dưới triều vua Thành Thái, nhờ sự thẽ thọt của ông ta nên một nhà thờ Thiên Chúa giáo mới được xây dựng trên đất của Linh Hựu Quán. Đó là nhà thờ Họ Cầu Kho. Thoạt tiên, đó chỉ là một căn nhà lợp tranh tre". Mãi tới khi Ngô Đình Diệm cầm quyền ở miền Nam, nhà thờ cũ  mới được cải tạo thành Trường Tín Đức (ngày nay là Trường THCS Thuận Lộc) và một nhà thờ mới được xây dựng khang trang vào đúng vị trí Linh Hựu Quán ngày xưa. Đó là nhà thờ Giáo xứ Tây Linh trên đường Thái Phiên, phường Thuận Lộc ngày nay…
Người vợ đầu của ông Ngô Đình Khả là một giáo dân, tên là Madelena Chĩu. Tuy nhiên, hương lửa nồng đượm không lâu vì bà Chĩu phận bạc, mất sớm. Tới năm 1889, ông Ngô Đình Khả tục huyền với một nữ giáo dân khác tên là  Anna Phạm Thị Thân, quê ở Phú Cam, Hương Thủy. Hai người đã sinh ra được 9 người con: 6 trai  và ba gái (theo thứ tự: Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thị Giao, Ngô Đình Thị Hiệp, Ngô Đình Thị Hoàng, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn và Ngô Đình Luyện).
Ông Ngô Đình Khả được coi là người biết cách giáo dục con cái nghiêm khắc, kết hợp niềm tin Thiên Chúa giáo với những giáo lý Nho học.  Tuy nhiên, cách giáo dục này đã không giúp cho các con của ông có được cuộc sống yên ổn sau này.
Ông Ngô Đình Khả qua đời năm 1923 vì bệnh phổi. Bà Phạm Thị Thân qua đời tại Sài Gòn ngày 2/1/1964, trước khi người con thứ tám Ngô Đình Cẩn bị giết hơn ba tháng. Trưởng nam của dòng họ Ngô, Tổng đốc Ngô Đình Khôi và con trai của ông ta là Ngô Đình Huân đã bị chết năm 1945. Người con trai thứ ba  là Ngô Đình Diệm, sinh năm 1901 tại Huế, từng được vua Bảo Đại bổ nhiệm chức thượng thư năm 1933…
Người con thứ bảy, Ngô Đình Nhu, tu học ở Ecole des Chartes Paris, được coi là trầm tĩnh, ít nói, lạnh nhạt bên ngoài. Ngô Đình Nhu từng là có vấn tối cao của Tổng thống Ngô Đình Diệm và đã bị quân đảo chính giết chết cùng anh trai tháng 11/1963.
Theo những người thân cận, khi ở trên đỉnh cao quyền lực, Ngô Đình Nhu "làm việc âm thầm, cần mẫn, hút thuốc liên hồi (mỗi lần nửa điếu, do sự can ngăn của vợ) trong một văn phòng không rộng, đầy ngập sách vở, ánh sáng mờ mờ, ở tầng dưới Dinh Độc lập, có gắn máy lạnh và interphone với bên ngoài". Săn bắn là thú tiêu khiển ưa chuộng của Ngô Đình Nhu và đồng thời là cơ hội tìm nơi yên tĩnh để suy nghĩ…
Người con trai út Ngô Đình Luyện, vốn là một kỹ sư, về sau đi làm đại sứ của chính quyền Sài Gòn khi các anh trai mình ở trên đỉnh cao quyền lực, được coi là người có tính tình cởi mở, bạn học của cựu hoàng Bảo Đại. Lúc thất thế, về hưu, ông Ngô Đình Luyện phải sống khá chật vật

Bài viết mới nhất